Vị thuốc vần L

Lục Lặc

10:36 20/05/2017

Crotalaria striata DC.

Tên đồng nghĩa: Crotalaria mucronata Desv.

Tên khác: Sục sặc, muồng lá tròn.

Tên nước ngoài: Sunn hemp, false hemp (Anh).

Họ: Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Cây nhỏ, cao khoảng lm. Thân cành hình trụ hoặc hơi có cạnh, có lông. Lá kép 3 lá chét, hình bầu dục, dài 4 - 5cm, rộng 2 - 2,5cm, gốc và đầu gần tròn, hai lá chét bên nhỏ hơn, mặt bên nhẵn, mặt dưới có lông nhỏ; cuống lá kép dài khoảng 4cm; lá kèm nhỏ, sớm rụng.

Cụm hoa mọc ỏ kẽ lá hoặc đầu ngọn, thường đối diện với lá, dài 15 - 20cm, có lông ngắn màu vàng; lá bắc nhỏ, sớm rụng; hoa màu vàng; đài hình chuông, có lông ở mặt ngoài và có răng không đều; tràng có cánh cờ rộng, cánh bên thuôn, cánh thìa có mũi nhọn; nhị đều; bầu có lông mềm.

Quả thuôn, dài 3 - 4cm, có lông, sau nhẵn; hạt nhiều, hình thận, màu nâu nhạt hoặc vàng.

Mùa hoa: tháng 1-3; mùa quà: tháng 4-6.

lục lặc  và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Lục lặc là loài cây liên nhiệt đới, phân bố rải rác từ châu Á đến châu Phi và cả ở vùng Nam Mỹ. Ở Việt Nam, lục lặc mọc tự nhiên nhiều ở các tỉnh trung du và vùng núi thấp (dưới 600m) ở phía bắc. Cây còn dược trồng dọc theo các bờ kênh mương ở vùng đồng bằng, lấy lá làm phân xanh.

Lục lặc là cây ưa sáng, ưa ẩm và mọc nhanh. Cây con mọc từ hạt vào khoảng tháng 4, sau 3 tháng đã có chiều cao đến hơn lm. Cây ra hoa quả nhiều, rụng lá và có thể tàn lụi vào cuối mùa thu. Cây mọc tự nhiên ở vùng núi chỉ thấy rụng lá, ít khi tàn lụi sau 1 năm. Vào thời kỳ sinh trưởng mạnh, nếu bị cắt cành, phần còn lại có khả năng tái sinh chồi khỏe.

Bộ phận dùng

Toàn cây và hạt. Cả cây, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Hạt lấy ở quả già vào mùa thu, phơi khô.

Thành phần hóa học

Hạt lục lặc chứa các alcaloid monocrotalin, mucronatin vói đ.c 179° (CA. 1964, 61, 8129C), usaramin đ.c 17íỉ°c (Indian J. chem. 1967, 5, 685), crostastriatin, đ.c 133°; mucronatinin là đồng phân mucronatin (Tetrahedron 1968, 24, 6319); nilgirin đ.c 127°c, (Tetrahedron letter 1968, 5605) (Planta medica 1972, 21, 345). Hạt còn có các flavonoid: lutein, vitextin và các. 'oxylosid của chúng (vitextin - 4' - o - o xylosiđ) chrysoerinol 7 - rutosid (Phytochemistry 1971, 10, 3312).

Các hợp chất complanatusid neocomplanosid myricomplanosid (Trung dược từ hải. II. 380). Thân lục lặc có apigenin (Phytochemistry 1970,9,2581 ư. 657).

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng độc với tế bào: Dùng tế bào thận của người đã đồng hóa, cho alcaloid monocrotalin với nồng độ 0,35 mg/ml sẽ gây tổn hại cho tế bào. Tăng nồng độ lên 0,5 mg/ml, tổn thương càng rõ. Monocrotalin còn ức chế sự tổng hợp DNA của tế bào.

Tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng liều 2.mg/kg làm tăng vi nhân trong hồng cầu ở tủy xương. Điều này chứng tỏ monocrotalin có tác dụng gây đột biến ở một mức độ nhất đinh.

2. Tác dụng trên tế bào ung thư: Trong thí nghiệm in vitro, cho monocrotalin vào dịch nuôi tế bào ung thư gan BEL - 7402 với nồng độ 300 và 500 Ịig/ml sẽ làm cho tế bào ung thư bị biến dạng, ức chế sự phân chia tế bào và sự sinh trưởng của tế bào ung thư.

Monocrotalin ức chế có ý nghĩa các loại tế bào ung thư sau: tế bào Walker's carcinoma, sarcoma - 180, sarcoma - 37, adenocancer - 775, tế bào leukemia - 615 của bệnh bạch cầu dòng lympho. Thuốc ức chế sarcoma - 37 đến 54 - 75%. Nếu có nguyên tử oxy liên kết với nguyên tử nitrogen trong nhân của monocrotalin (để tạo thành nhóm chất genalcaloid, mà ở đây là monocrotalin oxyd) thì độc tính của thuốc giảm và tác dụng ức chế các tế bào ung thư cũng giảm. Monocrotalin làm giảm sự hấp thu phosphor vào các mô ung thư, do đó ức chế sự chuyển hóa phosphor, làm giảm lượng DNA và RNA trong tế bào ung thư, ức chế quá trình sinh tổng hợp.

3. Độc tính: Tiêm dưới da monocrotalin cho khỉ với liều 30 mg/kg. Đến tháng thứ hai, thứ tư và thứ sáu lại tiêm nhắc lại một liều như trên. Sau tổng cộng 399 ngày, gây mê, làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý, thấy tim và phổi khỉ bị tổn thương rõ rệt.

Lá và hạt lục lặc chứa một alcaloid độc đối với dê. Nhưng nếu ngâm lá và hạt vào nước, rồi nấu chín thì hết độc. Cao khô toàn cây lục lặc chiết bằng cồn 50° có tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp. Độc tính cấp, tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng, đã được xác định là LD50 = 400 mg/kg, như vậy, lục lặc có độc tính khá cao. (Tài liệu Ấn Độ).

Tính vị, công năng

Hạt lục lặc có vị đắng nhạt, hơi chát, tính mát, có độc, có tác dụng sáng mắt, ích tinh, chống ung thư. Thân, lá, rễ lục lặc có vị đắng, tính bình, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, giúp tiêu hóa.

Công dụng

Hạt lục lặc được dùng chữa suy nhược thần kinh, di tinh, xuất tinh sớm. Hạt đôi khi rang lên để thay cà phê. Toàn cây được dùng chữa lỵ, đau bụng, phong thấp, đau nhức, bạch đới, đái rắt, ung thư

. Liều dùng 6 - 15g hạt, 15 - 20g toàn cây, sắc uống.

Bài thuốc có lục lặc

1. Chữa phụ nữ bạch đới, đái rắt:

Lục lặc, rau dừa nước, mỗi vị 20g, sắc uống. Kết hợp ăn ý dĩ sao vàng, tán bột, ngày 15 - 20g.

2. Chữa viêm phế quản mạn tính:

Lục lặc 60g, nấu với 1 lít nước trong 30 phút rồi bỏ bã, lấy nưốc, cô còn 400 ml, chia 3-4 lần uống trong ngày. Dùng 7 ngày.

3. Chữa ung thư (tài liệu Trung Quốc, 1986):

- Chữa bệnh bạch cầu dòng lympho mạn tính: Toàn cây lục lặc 15g, rễ địa đu 15g, rễ địa hoàng 15g, rễ đảng sâm 30g, rễ thiên môn 30g. sắc uống ngày một thang.

- Chữa ung thư biểu mô da có vảy: Toàn cây lục lạc phơi khô nghiền thành bột, tiệt trùng ở nhiệt độ cao, trộn với nước muối sinh lý thành bột nhão, bôi lên chỗ bị bệnh, ngày 2-3 lần. Có thể dùng liệu pháp ion. Thuốc được chế thành bột nhão như trên. Phết bột thuốc vào một miếng gạc, đắp lên chỗ bị bệnh và nối với cực âm của một dòng điện có điện thế thấp. Ngày làm một lần trong 20 - 30 phút, mỗi đợt điều trị 12 ngày, nghỉ 7 ngày rồi tiếp đợt khác.

- Chữa bệnh bạch cầu cấp và mạn tính: Dùng bột lục lặc, phối hợp với lách lợn đã nung thành than và nghiền thành bột, lượng bằng nhau, đóng vào viên nang 0,5g, mỗi lần 2 - 3 nang, ngày 3 lần.

- Chữa ung thư cổ tử cung; Dịch ép lục lặc tươi bôi lên chỗ bị tổn thương hoặc sắc đặc lấy nước rửa. Có thể chế thành thuốc tiêm lml tương đương 0,5 - l,0g dược liệu khô. Tiêm bắp thịt, ngày 4ml, cách 2 ngày làm một lần. Hoặc dùng thuốc tiêm monocrotalin tiệt trùng thay cho dịch chiết dược liệu toàn phần.

- Chữa ung thư thực quản: Lục lặc được chế thành dạng thuốc tiêm tiệt trùng monocrotalin hydrochlorid, dạng thuốc viên hoặc sirô.

 

Lục Lặc 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC