Vị thuốc vần L

Lười Ươi

10:37 20/05/2017

Scaphium lychnophorum (Hance) Kost.

Tên đồng nghĩa: Sterculia lychnophora Hance, Scaphium macropodum (Miq.) Beumée

Tên khác: Đười ươi, đại hải, hương đào.

Họ: Trôm (Sterculiaceae).

Mô tả

Cây to, cao 20 - 25 m. Cành non có cạnh và có lông màu hung, cành già nhẵn màu xám. Lá mọc so le, thường tập trung ở đầu cành, to và dày, nguyên hay xẻ 3 thùy, dài 15-40 cm, rộng 7 - 22 cm, gốc tròn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới màu nâu ánh bạc; lá non màu nâu tím; cuống lá dài 10-30 cm, to và mập.

Hoa nhỏ mọc thành chùy ở đầu cành trước khi cây ra lá.

Quả nang, phần giáp cuống phình rộng, thuôn nhỏ dần về phía đầu quả, khi chin màu đỏ, hạt hình trứng dài 2,5 - 3,5cm, rộng 1,2 - 2,5cm, màu nâu đỏ nhạt, mặt ngoài nhăn nheo.

Mùa hoa : tháng 3 - 4; mùa quả : tháng 6-8.

Lười ươi  và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Scaphium Schott et Endl chỉ có 1 loài là lười ươi phân bố ở các tỉnh phía nam như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương và Tây Ninh. Cây còn có ở vùng rừng nhiệt đới châu Á, gồm Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Lào.

Lười ươi là loài cây gỗ to, ở kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới; độ cao từ 400 đến 800 ra. Ớ nhiều nơi, cây mọc tương đối tập trung trên các loại đất đỏ bazan hay feralit đỏ - vàng trên núi. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm; quả chín vào cuối mùa khô. Do thân cây thẳng lại to, khó trèo nên người ta chỉ lượm những quả và hạt rụng xuống dất, đôi khi chặt hạ cả cây để lấy quả. Hạt lười ươi khi gặp nước thường trương lên rất nhanh và có thể nảy mầm ngay trong mùa mưa cùng năm. Lượng cây con mọc từ hạt gặp nhiều.

Việt Nam có nguồn trữ lượng lười ươi tương đối phong phú. Vào năm 1983, riêng ở tỉnh Quảng Nam người ta đã thu nhặt được gần 100 tấn (đế quả) để xuất khẩu. Gỗ lười ươi mềm và nhẹ nên ít được sử dụng.

Bộ phận dùng

Hạt, thu hái vào mùa thu, phơi hay sấy khô. Khi ngâm vào nước hạt nở to gấp 8-10 lần thể tích, tạo thành một khối chất nhầý màu nâu nhạt, trong, vị hơi chát.

Thành phần hóa học

Hạt lười ươi có 2 phần : phần nhân chứa 2,98% chất béo, tinh bột, sterculin; phần vỏ chứa khoảng 1% chất béo, 59% bassorin, chất nhầy và tanin.

Phần đường trong hạt gồm chủ yếu là galactose pentose và arabinose.

(Võ Văn Chi - Từ điển cây thuốc Việt Nam - 1999 - 696).

Chen Janmin, Cao Peứang, Song Hongtao đã chiết từ hạt lười ươi một loại polysaccharid PP.III mà thành phần là galactose, arabinose và rhamnose trọng lượng phân tử 162,2 KD. Rhamnose trong chuỗi chính nối với nhau ở vị trí a (1-3) bởi dây nối glucosid. pp III.C là một phần chủ yếu của polysaccharid; pp III. gồm lactose và rhamnose với tỷ lệ phân tử là 1:2,78 và trọng lượng phân từ 62,5 KD (CA. 125, 1996, 3006 ln).

Tính vị, công năng

Lười ươi có vị ngọt, nhạt, tính hàn, có tác dụng thanh phế nhiệt, lợi yết hầu, nhuận tràng, thông tiện, giải độc.

Công dụng

Lười ươi được dùng trong những trường hợp cơ thể nhiệt, táo, sốt âm ỉ, ho khan, đau họng, nhóc răng, lao thương thổ huyết, đại tiện ra máu, mụn lở.

Hạt lười ươi được coi là loại thuốc bổ mát, sinh tân dịch, trị các chứng đau ruột và các bênh về đường tiêu hóa. Dùng nhiều và liên tục không gây độc hại.

Khi dùng, lấy 4 - 5 hạt cho vào một lít nước nóng. Lúc đầu hạt nổi, sau khi ngấm nước, hạt nở rất to gấp 8 - 10 lần thể tích tạo thành một chất nhầy sền sột như thạch, màu nâu nhạt, trong, vị hơi chát. Nếu thêm đường vào dịch nhầy, sẽ được một thứ nước giải khát ngon, uống làm nhiều lần trong ngày.

Theo tài liệu nước ngoài, hạt lười ươi chữa sốt, chảy máu cam, cảm nắng, đau mắt, đau răng, giun, ho, tiêu chảy, kiết ly. Ở Campuchia, nước ngâm hạt được dùng nhuận tràng, vỏ thân cùng một số vị khác chữa lỵ, chảy máu, bí tiểu tiện, sốt.

Lười Ươi 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC