Vị thuốc vần M

Mã Đâu Linh

10:34 20/05/2017

Mã Đâu Linh có Tên đồng nghĩa: Aristolochỉa shukangỉi Chun et How

Tên khác: Cây khố rách, viên diệp mã đâu linh, đại diệp mã đâu linh.

Tên nước ngoài: Birthwort (Anh); aristoloche, aterlusi (Pháp).

Họ: Mộc hương (Aristolochiaceae).

Mô tả

Dây leo, dài 5 - 6 m. Rễ củ to. Thân và cành non có lông, cành già có vỏ nứt nẻ thành rãnh sâu theo chiều dọc. Lá to, hình tim tròn, dài 20 - 30 cm, rộng 18-28 cm, đầu tù, mép nguyên có lông dạng mi, lá non có lông màu vàng nâu ở cả hai mặt, lá già chỉ có lông ở mặt dưới, mặt trên xanh sảm, mặt dưới trắng nhạt, gân hình mạng nổi rất rõ; cuống lá dài 6 - 15cm.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá, có 1 - 2 hoa; bao hoa gồm một ống đài 6-7,5 cm, màu lục nhạt, cong lên, các thùy hình tam giác, màu tím hồng, có gai lồi ở mặt trên màu hồng sẫm, họng màu vàng; nhị 6; bầu 6 ô.

Quả hình trụ tròn, dài 8 - 10 cm, có 6 cạnh lồi màu nâu vàng, gốc và đầu thuôn nhọn; hạt hình trứng, màu nâu. Mùa hoa : tháng 5-7; mùa quả : tháng 9-11.

 Mã đậu linh và tác dụng chữa bệnh của nó 

Phân bố, sinh thái

Chi Arístolochia L. có khoảng 300 loài, phân bố Chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng nhiệt đói Trung và Nam Mỹ. Chỉ có một số ít loài phân bố ở vùng á nhiệt đới và ôn đối ấm. Ở Malaysia, có 28 loài, Trung Quốc khoảng 20 loài, Việt Nam hơn 10 loài. Loài mã đâu linh phân bố rất hẹp, chỉ bao gồm tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và một vài tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam như Lạng Sơn (huyện Đổng Đăng); Cao Bằng (huyện Thạch An) và Hà Giang (huyện Mèo Vạc). Mã đâu linh là cây ưa ẩm và có thể hơi chịu bóng; mọc rải rác ở ven rừng núi đá vôi, gần bò suối, nơi còn cây gỗ mọc thưa; độ cao từ 700 đến 1600 m. Quá trình sinh trưởng, phát triển của mã đâu linh (cũng như một số loài khác cùng chi) có liên quan đến một số loài bướm phượng (thuộc họ Papilionidae). Khi còn ở dạng ấu trùng - sâu róm, loài bọ này thưcmg hút nhựa ở ngọn và lá non để tạo nên những chất độc, chống lại các loài vật ăn thịt. Mặt khác, cũng chính những con sâu róm này là nguyên nhân gây nên sự rụng lá non và héo ngọn của các loài mã đâu linh (R.Kew, 1999, Aristolochia L; in L.s. de Padua et al, PROSEA Nol2(l) Medicinal and Poisonous Plants, 133-139pp).

Mã đâu linh ra hoa quả hàng năm; trong một cụm, hoa nở không đều và thụ phấn nhờ côn trùng. Khi quả già, tự mở thành 6 mảnh dọc; hạt mảnh, được phát tán nhờ gió. Mã đâu linh có khả năng tái sinh chồi khỏe sau khi bị chặt đốn. Có thể trồng được bằng đoạn thân bánh tẻ hay bằng gốc. Mã đâu linh là loài cây thuốc đặc biệt quý hiếm ở Việt Nam.

Từ những năm 70 số cá thể được phát hiện ở các điểm phân bố kể trên rất ít. cần có kế hoạch khảo sát lại, thu thập cây con và hạt giống để nghiên cứu trồng và bảo tồn chu đáo hơn.

Bộ phận dùng

Rễ, thu hái vào mùa thu, dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.

Tác dụng dược lý

Acid aristolochic 1 :

Thí nghiệm trên ống kính với nồng độ 50 - 200 ng/ml acid aristolochic I có tác dụng ức chế một số vi khuẩn gram dương như Bacillus, Diplococcus, Mycobacterium sarcìna, Staphylococcus và Streptococcus; với nồng độ lớn hơn > 200 Ịig/ml, thuốc ức chế cả một số vi khuẩn gram âm và nấm gây bệnh. Trên chuột nhắt trắng đã được gây nhiễm Dipỉococcus pneumoniae, Streptococcus aureus và Staphyỉococcus pyogenic, acid aristolochic I tiêm xoang bụng với liều 50 mg/kg có tác dụng bảo vệ súc vật khỏi tử vong.

Thuốc còn có tác dụng kích thích hoạt động thực bào của các đại thực bào (macrophage) ở xoang bụng chuột thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu về tác dụng chống ung thư của acid aristolochic còn chưa thống nhất, có khi trái ngược nhau, có tác giả cho rằng thuốc có tác dụng ức chế một số sarcom thực nghiệm, tác giả khác lại nêu thuốc có tác dụng gây carcinom và gây đột biến. Magnojỉorin: Có tác dụng hạ huyết áp.

Trên thỏ thuốc gây hạ huyết áp và hạ thân nhiệt rõ rệt.

Trên mèo gây mê magnofIorin tiêm tĩnh mạch vói liều 2 mg/kg gây hạ huyết áp ngay tức khắc với mức độ có ý nghĩa thống kê. Trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm tĩnh mạch, magnoũorin có LD50 = 20 mg/kg.

Tính vị, công năng

Mã đâu linh có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ thống, lương huyết, chỉ huyết.

Công dụng

Rễ mã đâu linh được dùng chữa đau bụng, đầy bụng, đau dạ dày, khó tiêu, nôn mửa, ngộ độc thức ăn. Dùng ngoài chữa vết thương, nhọt độc.

Liều uống. Ngày 2 - 6g dưới dạng nước sắc, hoặc thuốc bột, thuốc viên. Dùng ngoài, rễ tươi giã nát đắp hoặc rễ khô tán bột, rắc tại chỗ. Ở Trung Quốc, mã đâu linh được dùng chữa viêm loét dạ dày cấp tính, viêm họng vói liều 1,5 - 3,0g bột uống với nước đun sôi để nguội.

Bài thuốc có mã đâu linh

Chữa đau bụng, đầy bụng, tiều hóa kém:

a. Mã đâu linh 40g, vỏ vối rừng 40g, hoắc hương 20g, trần bì lOg, thảo quả lOg, hạt cau rừng lOg. Tất cả tán thành bột mịn, luyện hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 40 - 60 viên với nước ấm, chia làm 2 lần. Trẻ em tùy tuổi uống giảm liều.

b. Mã đâu linh lOg, ích trí nhân 10g, tiểu hồi 6g, trần bì 6g, gừng khô 6g, ô mai 6g. sắc với 400 ml nước còn 100 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày

Mã Đâu Linh 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC