Vị thuốc vần M

Mướp Tây

02:45 23/05/2017

Mướp Tây có tên đồng nghĩa: Hibiscus esculentus L.

Tên khác: Cây đậu bắp, bụp bắp.

Tên nước ngoài: Edible hibiscus, lađies' fingers, gobba, gumbo, okra (Anh); ketmie comestible, ketmie gombo, mauve comestible, gombeau, bamia (Pháp).

Họ: Bông (Malvaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống hàng năm, cao khoảng 2m. Thân hình trụ, có lông dài và nháp. Lá mọc so le, hình tim, chia 5 thùy hẹp, hai mặt có lông dài áp sát, nháp, mép khía răng to, gân chính 5 nổi rõ ờ mặt dưới; lá kèm hình chỉ, có lông.

Hoa mọc ở kẽ lá, màu vàng, ở phần giữa màu đò; tiểu đài có 8 - 10 phiến mảnh, đầu nhọn, giống lá kèm; đài hình mo có răng; tràng 5 cánh; nhị nhiều dính với nhau thành cột; bầu có lông.

Quả hình thoi, dài 10 - 20cm. Mùa hoa quả: tháng 5-7.

Mướp tây và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái 

Chi Abelmoschus Medikus có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á, song loài mướp tây đang được trổng hiện nay chưa được biết chính xác xuất xứ của nó ỏ khu vực nào. Khi nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể của mướp tây, có người giả thiết rằng, với thể lưỡng bội kép (2n = 130), cây có liêa quan chặt chẽ đến hai loài: A. tuberculatus Pal et Singh (2n = 58) hiện còn mọc hoang dại ở Ấn Độ và một loài khác chưa biết rõ ràng, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 72 (J. s. Siemonsma, 1994).

Ngày nay, mướp tây được trồng phổ biến khắp các vùng nhiệt đới để lấy quả non làm rau ăn. Nơi trồng nhiều nhất là Ấn Độ, Tây Phi, Braxin, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Indonexia, Papua New Guinea.

Mướp tây là loại cây ưa sáng và ưa ẩm. Nhiêt độ cần thiết để cho cây sinh trưởng, phát triển bình thường, tối thiểu là từ 20°c trở lên. Vào thời kỳ sinh trưởng mạnh, giới hạn nhiệt độ được coi là tối thích từ 25 - 30°c hoặc hơn đối với cây trồng ở vùng nhiệt đới hơi khô. Cây trồng từ hạt sau 6 hoặc 7 tuần, bắt đầu có hoa. Hoa tự thụ phấn hoặc nhờ côn trùng; từ khi hoa nở đến khi thu hoạch dược quả non làm rau vào khoảng 6 - 8 ngày. Để lấy quả già (hạt làm giống) cần 20 - 24 ngày, mướp tây sẽ bị tàn lụi khi kết thúc mùa hoa quả.

Mướp tây là loại rau ăn tương đối quan trọng ở các nưốc Đông Nam Á. Tổng sản lượng mướp tày hàng năm trên thế giới ước tính là 5 - 6 triệu tấn (quả xanh). Ở Việt Nam, cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía nam. Ngay từ đầu những năm 70, mướp tây được Viện Cây lương thực và Thực phẩm trồng ở một số địa phương như Hài Dương, Hưng Yên, Tam Đảo, ngoại thành Hà Nội... song về diện tích cũng như sản lượng nhìn chung không đáng kể.

Bộ phận dùng

Quả non, quả già, hạt và rễ dùng tươi hay phơi, sấy khô.

Tác dụng dược lý

Dịch nhầy từ một số loài của chi Abelmoschus có hoạt tính kháng bổ thể và hạ đường máu trên thực nghiệm.

Công dụng

Quả mướp tây non được dùng nấu ăn. Chất nhầy khi nấu quả thái mỏng có vị hơi chua, mát, thường dùng trong trường hợp viêm đường tiểu tiện, tiểu tiện khó khăn. Rễ và lá thái mỏng phơi khô là thuốc chữa ho, viêm họng. Ngày uống 10- 16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm, và còn đùng súc miệng. Hạt chín phơi khô rang, pha uống như cà phê. Ở Nepal, rễ mướp tây được giã nhuyễn cùng với một cây thuốc khác và đắp quanh chân bị gẫy của gia súc, bên ngoài bọc một mảnh vải. Sau 3-4 tuần, dùng nuớc ấm để rửa bỏ thuốc đắp.

 

Mướp Tây 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC