Hotline: 0915.913.255; Zalo: 0903 428.599
Hotline: 0915.913.255; Zalo: 0903 428.599

Vị thuốc vần C

Chè Vằng

16:04 19/04/2017

Tên khác: Vằng, vằng sẻ, vằng lá nhỏ, râm ri, râm leo, râm tráng, lài 3 gân.

Họ: Nhài (Olcaceae).

Mô tả

Cây nhỏ, mọc thành bụi. Cành mảnh, vươn dài. Lá mọc đối, hình bầu dục - mũi mác, gốc tròn, đầu thuôn thành mũi nhọn, hai mặt nhẵn gần như cùng màu, mặt trên bóng, 3 gân tỏa từ gốc, những lá gần cụm hoa nhỏ dần trông như những lá bắc; cuống ngắn.

Cụm hoa mọc ở đầu cành thành chùy, gồm 7-9 hoa màu trắng; lá bắc hình dùi; đài hoa có ống ngắn, 8 - 10 thùy rất hẹp và nhọn; tràng có ống dài phình lên ở đầu, 8-10 cánh hoa hẹp; nhị đính ở họng tràng; bầu tù.

Quả mọng, khi chín màu đen.

Mùa hoa: tháng 3 - 4; mùa quả: tháng 5 - 6.

Loài Jasminum anastomosans Wall, cụm hoa chỉ có 2 - 3 hoa cũng được dùng với công dụng tương tự.

Chú ý: Tránh nhầm chè vằng với lá ngón vì chúng rất giống nhau ở dáng cây. Đã có trường hợp hái nhầm và dùng bị ngộ độc chết người.

Phân bố,sinh thái

Jasminum L. là một chi lớn, gồm những cây bụi, mọc dựa hoặc leo, phân bố rộng rãi từ vùng nhiệt đới đến cận nhiệt đới và cả vùng ôn đới ấm.

Ở Việt Nam, chi này có 30 loài, trong đó 8 loài được dùng làm thuốc. Trừ loài hoa nhài, 7 loài còn lại thuộc nhóm dây leo hay cây mọc dựa, thường có tên gọi chung là "Vằng" hoặc "Chè vằng".

Chè vằng phân bố phổ biến và khá tập trung ở khu vực các nước Đông Nam Á và Nam Á. Ngoài ra, cây cũng còn gặp cả ở các tỉnh phía nam Trung Quốc và đảo Hải Nam. Ở Việt Nam, chè vằng có rải rác ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi thấp, trung du và cả đồng bằng. Không thấy cây mọc ở vùng núi cao trên 1500 m.

Chè vằng là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, nhất là thời kỳ cây còn nhỏ, thường mọc lẫn trong các lùm bụi ở ven đồi, bờ nương rẫy và quanh .làng bản. Cây mọc nơi đất ẩm, sinh trưởng mạnh hơn cây ở vùng đồi khô hạn. Chỉ có những cây mọc trùm lên các cây bụi khác, được chiếu sáng đầy đủ mới thấy có nhiều hoa quả. Trong tự nhiên thường gặp nhiều cây con mọc từ hạt xung quanh gốc cây mẹ. Sau khi bị chặt phá nhiều lần, phần thân, cành còn lại của chè vằng đều có khả năng tái sinh nhiều chồi.

Nguồn trữ lượng chè vằng ở Việt Nam nhìn chung tương đối dồi dào. Việc thu hái cành lá hàng năm không ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cành của cây.

Cách trồng

Chè vằng chưa được sản xuất lớn, chỉ mới được trồng phân tán ở các gia đình để làm hàng rào, ở các vườn thuốc của các trạm y tế xã, bệnh viện, trường học, các cơ quan nghiên cứu để làm thuốc, nghiên cứu và giảng dạy.

Cây không kén đất, có khả năng chịu hạn, ít bị sâu bệnh.

Chè vằng chủ yếu được nhân giống bằng hạt. Hạt gieo vào tháng 2-3 hoặc tháng 8-9. Cũng có thể thu gom cây con mọc tự nhiên xung quanh gốc chè vằng để đem trồng. Ngoài ra, còn có thể tách khóm hoặc dùng cành để nhân giống vào mùa xuân là thời vụ tốt nhất.

Chè vằng thường được trồng theo hốc. Vào mùa xuân, đào hốc cách nhau 1 - 1,2 m, mỗi hốc bón lót một ít phân chuồng sau đó gieo hạt, đặt cây con hoặc hom giống.

Cây sống nhiều năm, thu hoạch thường xuyên. Sau mỗi lần thu hoạch, cần bón thúc thêm phân, làm cỏ, xới xáo.

Bộ phận dùng

Cành lá, thu hái quanh năm, phơi khô.

Thành phần hóa học

Lá chè vằng chứa alcaloid, nhựa, fTavonoid (Nguyên Thi Ninh Hải, Luận án Tiến sĩ Dược học 1986).

Tác dụng dược lý

Chè vằng ức chế khá mạnh in vitro sự phát triển của các chủng vi khuẩn : tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tan máu, Shigella dysenteriae, S.shigae, trực khuẩn thương hàn, Achromobacter và ức chế yếu hơn đối với trực khuẩn mủ xanh.

Chè vằng có tác dụng bảo vệ chuột nhắt trắng chống lại nhiễm khuẩn máu gây bởi trực khuẩn thương hàn, làm tăng có ý nghĩa tỷ lệ chuột sống sót. Trong nghiên cứu lâm sàng, chè vằng có tác dụng dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn sau khi đổ và áp xe vú do tắc tia sữa.

Chè vằng cũng có tác dụng ức chế in vitro đối với sự phát triển của nhiều chủng vi khuẩn phân lập tù bệnh phẩm kháng với những thuốc kháng sinh thông dụng như: tụ cầu vàng, liên cầu tan máu, Staphylococcus albus, S.epidermidis.

Chè vằng có tác dụng chống viêm trên những mô hình gây phù cấp tính bàn chân với kaolin và gây u hạt mạn tính với amian ở chuột cống trắng. Dược liệu cũng làm giảm sốt gây bởi natri nucleinat ở thỏ, thúc đẩy nhanh quá trình lành của vết thương gây thực nghiệm ở chuột cống trắng, và dự phòng loét dạ dày trên mô hình thắt môn vị ở chuột cống trắng.

Chè vằng gây tác dụng lợi mật trên chuột lang, làm giảm co bóp tự nhiên của tử cung và giảm co thắt ruột gây bởi acetylcholin và bari clorid trên ruột cô lập. Dược liệu biểu hiện rất ít độc trong những thử nghiệm về độc tính cấp tính và mạn tính.

Tính vị, công năng

Chè vằng có vị hơi đắng, chát, tính ấm, vào hai kinh: tâm, tỳ, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, khu phong, hoạt huyết, điều kinh, tiêu viêm, trừ mủ.

Công dụng

Chè vằng được dùng trị kinh nguyệt không đều, bế kinh hoặc khi thấy kinh đau bụng, sau khi đẻ bị nhiễm khuẩn sốt cao, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung và tuyên vú, áp xe vú, khí hư bạch đới. Còn dùng trị phong thấp do huyết kém, đau nhức khớp xương, vàng da, ghẻ lở, chóc đầu, các bệnh ngứa ngoài da, rắn cắn.

Ngày dùng 40 - 100g cây tươi hoặc 20 - 30g dược liệu khô dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu nước tắm, liều lượng không hạn chế.

Bài thuốc có chè vằng

1. Chữa phụ nữ kinh nguyệt không đều, bế kinh đau bụng:

Chè vằng 20g, ích mẫu 16g, hy thiêm 16g, ngải cứu 8g, bạch đồng nữ 8g, nước 500 ml. sắc còn 300 ml, uống làm 3 lần trong ngày.

2. Chữa sưng vú, vết thương:

Chè vằng 30g, sắc uống. Giã cây tươi đắp ngoài.

3. Chữa áp xe vú:

Lá chè vằng tươi giã nát dùng riêng hoặc trộn với cồn 50° đắp vào nơi áp xe. Ngày 3 lần, đêm 2 lần. Áp dụng thử nghiệm trên lâm sàng, sau khi khỏi, số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu và sự tiết sữa đều trở lại bình thường.

4. Chữa vàng da: Chè vằng, ngấy hương, mỗi vị 20g. sắc uống, ngày một thang.

5. Thuốc nhuận gan:

Chè vằng 12g, nhân trần 20g; chi tử, lá mua, vỏ núc nác, rau má, lá bồ cu vẽ, vỏ đại, mỗi vị 12g; thanh bi 8g.

Sắc uống, ngày một thang.

DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC