Hotline: 0915.913.255; Zalo: 0903 428.599
Hotline: 0915.913.255; Zalo: 0903 428.599

Vị thuốc vần O

Ổi

09:05 25/05/2017

Ổi có tên đồng nghĩa: Psidỉum guajava L. var. pyriferum L. Psidium guajava L. var. pomiferum L.

Tên nước ngoài: Common guava (Anh), goyavier (Pháp).

Họ: Sim (Myrtaceae).

Mô tả

Cây nhỡ, cao 3 - 6m. Thân có vỏ mỏng, trơn nhẵn, khi già bong ra từng mảng. Cành non vuông, có lông mềm, cành già hình trụ, nhẵn. Lá mọc đối, hình trái xoan hoặc hình trứng, dài 9 - 11 cm, rộng 3 - 6cm, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt có gân nổi rõ.

Hoa màu trắng, mọc đơn độc hoặc tập trung 2-3 cái ở kẽ lá, cuống có lông mịn; đài nhỏ có ống, 4 - 5 răng không đều; tràng 5 cánh dày, có lông mềm; nhị rất nhiều, xếp thành nhiều dãy, chỉ nhị rời, bao phấn có trung đới rộng; bầu hạ, dính vào ống đài, 5 ô.

Quả mọng, hình cầu hoặc hình trứng, khi chín màu vàng, ruột màu đỏ, trắng hoặc vàng, hạt rất nhiều, hình bầu dục. Mùa hoa: tháng 3-4; mùa quả: tháng 8-9.

Ổi và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Ổi có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ. Theo De Candolle vùng phát sinh của ổi có lẽ ở giữa Mexicô và Peru. Chính những người Tây Ban Nha đã đưa cây đến các đảo ở Thái Bình Dương và Philippin; còn người Bổ Đào Nha du nhập cây vào Ân Độ và sau đó phát triển rộng ra khắp các vùng nhiệt đới khác (Lita Soetopo, 1992, Psidium guajava L., in: E.W.M.Verheij and R.E.Coronel. PROSEA, N°2 - Edible fruits and nuts, Bogor Indonesia, 266 - 270).

Trong quá trình du nhập, trồng trọt và lai tạo giống, ngưòi ta đã tạo nên rất nhiều giống ổi khác hẳn nhau Bên cạnh quần thể trồng trọt rất phong phú còn có quần thể ổi mọc hoang dại khá đa dạng ở các nước nhiệt đới châu Mỹ, châu Á. Ở Việt Nam, ổi là cây ăn quả quan trọng đươc trồng hầu như khắp các địa phương, cả vùng đổng bằng lẫn ở miền núi, trừ vùng cao trên 1500m. Chỉ tính riêng quần thể ổi trồng đã có khoảng 7 - 10 giống khác nhau. Quần thể ổi mọc hoang đại thường chỉ thấy ở vùng trung du và núi thấp. Chúng mọc lẫn với nhiều loại cây bụi khác ở các vùng đồi, đất sau nương rẫy, hay dọc theo các đường đi. Ổi mọc hoang dại có hoa quả nhiều nhưng chất lượng quả kém (quả nhỏ nhiều hạt, vị chát...) nên ít được chú ý.

Ổi là cây ưa sáng, sinh trưởng phát triển tốt trong một giới hạn rộng của vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Giới hạn vể nhiệt độ từ 15 - 45°c, nhưng nhiệt độ tốt nhất cho cây sinh trưởng và cho nhiều quả là từ 23 - 28°C; lượng mưa 1000 - 2000mm/năm. Cây có thể chịu được hạn, song điều kiện quá ẩm ướt, thường xuyên có sương mù làm cho cây ra hoa, kết quả kém.

Ổi ra hoa quả nhiều hàng năm. Cụm hoa thường xuất hiện trên những cành non mới ra cùng năm. Nhìn chung hoa nở có thể kéo dài 2 ngày. Trong khoảng thời gian đó, sự thụ phấn xảy ra bất cứ lúc nào; Gió và côn trùng là tác nhân thụ phấn. Trong khi đó, chim, động vật (kể cả người) là tác nhân phát tán hạt giống đi khắp nơi. Vòng dời của cây ổi có thể tổn tại 40 - 60 năm. Các nước trồng nhiều ổi nhất thế giới là Braxin, Mêxicô, Thái Lan, Indonesia (Java) và một số nước khác ở châu Á. Ước tính mỗi năm có khoảng vài trăm ngàn tấn quả được đưa ra thị trường thế giới. Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu là những nước thường xuyên nhập khẩu ổi từ các nước nhiệt đới.

Cách trồng

Ổi được trồng phổ biến ở tất cả các xứ nóng, trừ những nơi quá lạnh. Cây chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt như khô hạn hoặc úng ngập, nhưng không được tươi tốt và ít hoa quả. Cây không kén đất. Ổi có thể nhân giống bằng hạt, ghép, chiết hoặc giâm cành. Hạt ổi vừa lấy ở quả nên gieo ngay, tỷ lệ nảy mâm sẽ cao và mọc khỏe. Tuy nhiên, cây gieo từ hạt biên dị lớn cả về năng suất, chất lượng và hương vị, vì vậy, chỉ nên dùng hạt để gieo lấy cây con làm gốc ghép. Hạt có thể gieo ra chỗ cố định, trong vườn ươm hoặc trong bầu. Khi cây con có đường kính 6 - 10mm thì tiến hành ghép. Cành ghép phải lấy từ cây khỏe.

Chọn cành 1 năm tuổi, đường kính 10 - 12mm, cắt hết lá trước 10 ngày để kích thích ra chồi. Cành ghép sau khi cắt xong nên ghép ngay. Nếu muốn bảo quản vài ba ngày có thể nhúng 2 đầu cành ghép vào sáp. Ở miền Nam, có thể ghép quanh năm, còn ở miền Bắc ghép vào tháng 4 - 10, tránh những lúc mưa quá nhiều. Ổi rất dễ chiết. Chọn cành đường kính l,5cm, bóc 1 đoạn vỏ dài 2cm, để khô 1-2 ngày rồi bó bầu, sau 5 - 6 tuần sẽ ra rễ, 2 - 3 tháng có thể cắt đem trồng hoặc ươm thêm 6-8 tuần cho khoẻ. Ngoài ra, cũng có thể trồng bằng hom rễ, giống như hồng. Phương pháp nhân giống tốt nhất là giâm cành (búp). Trên cây mẹ, cắt hết cành có đường kính dưới lcm, bón phân tổng hợp nhiều đạm, sau 50 ngày thu một đợt cành giâm có 4 - 6 lá và 35 ngày sau có thể thu được đợt thứ hai. Chân cành giâm phải cắt bằng dao thật sắc, nhúng vào dung dịch ỈBA hoặc NAA (lOOppm) trong 12 giờ hay chấm vào hỗn hợp bột talc và IBA (2000 ppm), sau đó cắm sâu 2cm xuống cát sạch với mật độ 50 hom/m2. Cành cắt xong cần giâm ngay, không để héo, không cắt lá. Khi giâm, không để lá tiếp xúc với cát. Giữ ẩm thường xuyên, tốt nhất bằng cách phun mù. Sau khoảng 40 ngày, khi cành giâm đã ra rễ, chuyển sang bầu, chăm sóc thêm 6-7 tháng, rồi đưa đi trồng. Ở miền Bắc, trồng vào tháng 2 - 3, ở miền Nam tháng 4 - 5 là tốt nhất. Khi trổng đào hố với kích thước 50 - 60 X 50 - 60 X 50 - 60cm và khoảng cách 3 - 5 X 3 - 5m tuỳ điều kiện đất đai, chăm sóc, tập quán và giống. Mỗi hốc nên bón lót 20 - 25kg phân chuồng hoai mục, 0,1kg supe lân và 0,1kg Sulfat kali.

Chú ý không làm vỡ bầu và đặt cây sao cho sau khi đất lún, cổ cây vẫn ngang với mặt đất. Ổi tuy chịu hạn và chịu úng tốt nhưng những yếu tố này cũng ảnh hưởng lớn đến năng suất, vì vậy cần giữ cho vườn ổi đủ nước và thoát nước nhất là khi quả đang lớn. Muốn có năng suất cao, cần bón nhiều phân. Trổng quy mô lón, thường đùng phân hỗn hợp NPK 12-15-18, mỗi năm bón 4 lần. Lượng phân bón mỗi lần cho mỗi cây ở năm thứ nhất là 100g NPK + 50g amoni Sulfat, năm thứ hai 200g NPK + 100g amoni Sulfat, năm thứ ba 300g NPK + 150g amoni Sulfat + 50g magie Sulfat. Những năm sau cần bón nhiều hơn để bù đắp cho lượng NPK trong sản lượng quả thu hoạch. Trồng quy mô nhỏ, có thể bón bằng phân chuồng mục hoặc nước giải. Vườn ổi luôn sạch cỏ để tránh rễ ổi ăn quá sâu, không tận dụng được dinh dưỡng trên tầng đất mặt.

Ổi không có bệnh đặc biệt nguy hiểm, nhưng cần chú ý một số loại rệp, sâu, nhất là sâu róm hại lá. Có thể phun các loại thuốc chứa lân hữu cơ hoặc carbomat để phòng trừ. Ổi chỉ ra quả ở cành non, vì vậy hàng năm sau khi thu hoạch, cần tiến hành đốn tỉa cành già. Ổi trổng bằng hạt có quả sau 3-4 năm, trồng bằng cành chiết có quả sau 1-2 năm. Quả chín tập trung vào mùa hè, nhưng cũng có những giống cho quả chín quanh năm. Khi quả mềm là có thể thu hoạch. Quả ổi nói chung không bảo quản được lâu, cần tiêu thụ ngay sau khi hái. Năng suất quả tươi có thể dạt 20 tấn/ha vào năm thứ 3 - 5 và 50 tấn/ha vào năm thứ 6-7.

Bộ phận dùng

Búp non, lá, quả, vỏ rộp và đôi khi cả vỏ rễ.

Tính vị, công năng

Ổi có vị chát, hơi chua, tính mát, sáp trường, chi tả.

Công dụng

Quả ổi xanh được dùng chữa tiêu chảy bằng cách nhai quả nuốt nước, nhả bã. Người bình thường ăn ổi xanh sẽ bị táo bón. Quả ổi xanh còn có thể giải độc ba đậu và các chất độc khác gây tiêu chảy. Quả ổi chín, nhất là loại chín mềm, vỏ ngoài màu vàng, chứa nhiều pectin nên có tác dụng nhuận tràng (ăn quả chín hàng ngày hoặc làm mứt ăn dẩn). Vỏ rộp ổi, chứa tanin có tác dụng lảm săn, giảm đau, sát khuẩn, thường dùng phối hợp vối các được liệu khác. Lá non và búp ổi là vị thuốc chữa đau bụng đi ngoài, thưòng đùng dạng thuốc sắc hay thuốc hãm, vói liều hàng ngày là 15 - 20g; lá ổi nấu nước tắm trị rôm sẩy, lở ngứa, vỏ thân và vỏ rễ ổi cũng được đùng để chữa di ngoài và rửa vết thương, vết loét, với liều 15g sắc uống.

Trong y học Trung Quốc, dịch ép quả ổi tri đái tháo đường và quả ổi chín phơi khô là thuốc chữa kiết lỵ. Trong y học Ấn Độ, lá ổi trị vết thương, vết loét và là chất làm săn dối với ruột. Lá non là thuốc bổ trong những bệnh về chức năng tiêu hóa. Nước sắc lá phần nào có kết quả làm ngừng nôn và tiêu chảy trong bệnh dịch tả. Nước sắc lá non và búp ổi uống trị lỵ và tắm để hạ sốt và chống co thắt. Nước hãm lá được dùng trong bệnh về não và viêm thận. Lá giã nát đắp trị thấp khớp, cao chiết lá được dùng trong động kinh và múa giật, cổn thuốc từ lá được xát lên cột sống trẻ em bị co giật. Nước sắc lá ổi súc miệng tri đau răng và nhọt ở lợi. Nước sắc vỏ cây có tác dụng làm săn, trị tiêu chảy trẻ em. Hoa ổi được coi là có tác dụng làm mát cơ thể, trị viêm phế quản. Quả có tác dụng bổ, làm mát, nhuận tràng, trị đau bụng, chảy máu lợi, tiêu chảy và lỵ.

Quả ổi có trong thành phần một bài thuốc gồm 5 vị để chữa hen. Một bột nhão từ búp non cây ổi và búp non bạch đồng nữ với tỷ lệ bằng nhau, trộn với ít muối ăn, được đùng chữa đau dạ dày do đầy hơi. Ở Indonesia, ổi được dùng chữa đau dạ dày và tiêu chảy. Rễ ổi phối hợp với lá tần cửu và 2 dược liệu khác chữa tiêu chảy ra máu. vỏ cây có trong thành phần một số bài thuốc chữa đau bụng, tiêu chảy thường và tiêu chảy ra máu. Ở Nepal nhân dân uống dịch ép từ vỏ thân cây ổi để chữa lỵ và tiêu chảy ra máu và uống dịch ép rễ cây ổỉ để chữa lỵ. vỏ thân của 3 cây: ổi, ban và vối ròng được trộn lẫn vối tỷ lệ bằng nhau và nghiền nát lấy dịch uống để trị tiêu chảy ra nhiều nước và lỵ. Búp ổi non sao vàng, sắc uống trị tiêu chảy. Ở Haiti, nhân đân cũng dùng dịch ép quả hoặc nước sắc lá uống trị tiêu chảy. Ở Mêhicô, cao nước lá ổi trị tiêu chảy không nhiễm khuẩn. Ở Brazil, búp ổi chữa tiêu chảy, viêm lợi. Ở Bờ Biển Ngà, nước sắc lá ổi được đùng uống có tác dụng thông mật và trị tiêu chảy.

Bài thuốc có ổi

1. Chữa tiêu chảy:

a. Búp ổi 12g; vỏ thân ổi, tô mộc, mỗi vị 8g; gừng 2g. Sắc uống ngày một thang.

b. Búp ổi 20g, lá khổ sàm 12g, gừng sống 8g. Băm nhỏ, sắc uống làm 2 lần trong ngày.

c. Búp ổi (sao qua) 20g, vỏ quýt khô 10g, gừng nướng chín 10g. sắc uống ngày một thang.

d. Lá ổi, vỏ quả bòng khô, mỗi vị 20g; lá chè tươi 10g; gừng tươi 2 lát. sắc uống trong ngày.

e. Búp ổi 8g, củ sả 16g, củ riềng (thái lát) 8g, sao qua sắc đặc uống trong ngày.

f. Lá ổi 8g; vỏ rụt 12g; thần khúc, thảo quả, hoắc hương, mỗi vị 8g; can khương 6g. Tán bột, làm viên, ngày uống 8 - lOg.

g. Vỏ rộp ổi, vỏ cây vối, đọt cây hồng xiêm, mỗi vị 20g. Sao vàng, hạ thổ, sắc đặc uống trong ngày. Có thể dùng dạng bột, mỗi lần uống 15 - 20g.

2. Chữa thổ tả: Vỏ rộp ổi sao đen, lá phèn đen, mỗi vị 40g  hoài sơn sao đen, liên nhục sao đen, mỗi vị 20g; trạch tả sao, trư linh, bạch truật sao vàng, bạch linh, hoắc hương, mỗi vị 12g. Tất cả phơi khô, tán bột rây mịn Mỗi lần uống 1 thìa cà phê, ngày 2 lần.

3. Chữa lỵ: Vỏ rộp ổi, hạt mã đề, hoa hoè, rễ mơ lông, mỗi vi 8g. Sao vàng, sắc uống ngày một thang.

4. Chữa khí hư: Vỏ rộp ổi, vỏ cây sắn thuyền, rễ cỏ tranh, mỗi vị 30g. Sắc uống ngày một thang.

DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC