Hotline: 0915.913.255; Zalo: 0903 428.599
Hotline: 0915.913.255; Zalo: 0903 428.599

Vị thuốc vần B

Bách Xù

10:05 15/05/2017

Bách Xù có Tên đồng nghĩa:Sabina chinensìs (L.) Antoine

Tên khác:Viên bách, tùng xù, bách tròn, cối tía, tử cối.

Tên nước ngoài:Genièvre (Pháp).

Họ:Bách (Cupressaceae).

Mô Tả

Cây gỗ, thường xanh. Thân hình trụ, cành nhỏ tròn hoặc hơi vuông. Lá mọc áp sát vào cành, hình kim ở cành non và dạng vảy ở cành già. Lá dạng vảy, xếp dày đặc, đầu tù, có tuyến ỏ gân giữa lá.

Cụm hoa là những nón, đực và cái riêng; nón đực hình trứng dài, nón cái hình cầu. Nón quả gần tròn, đường kính 6-8 cm, khi chín màu nâu, phủ phấn trắng; hạt 1-4, thường là 2 - 3.

Bách xù và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Juniperus L. có khoảng 50 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu. ớ Việt Nam, chi này chỉ có 2 loài được trồng làm cảnh. Bách xù phân bố ở vùng Đông Bắc Á, bao gồm Mông Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Cây đã được nhập trồng cả một số nưóc khác ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ.

Ở Việt Nam, bách xù được nhập nội vào thời gian nào chưa rõ, song có nhũng cây trồng ở Tam Đảo, Hà Nội và một số địa phương khác đã có khoảng 100 năm tuổi. Bách xù là cây hơi chụí bóng hoặc có thể trổng được cả những nơi trống trải (vùng núi cao), sinh trưởng, phát triển tốt trong điểu kiện có khí hậu ẩm mát. Cây mọc tự nhiên ở Trung Quốc và Mông cổ vẫn tồn tại được trong mùa đông lạnh khắc nghiệt.

Bách xù trồng ỏ Tam Đảo xuất hiện nó sinh sản vào khoảng tháng 3-4. Chưa thấy cây con mọc từ hạt. Gần đây, người ta đã tạo được nhiều cây con từ cành bánh tẻ bằng cách sử dụng các chất kích thích ra rễ.

Bộ phận dùng

Cành, lá và vỏ thân.

Thành phần hóa học

Lá bách xù chứa đeoxypođophylotoxin, chất này có tác dụng độc đối với tế bào.

Theo Fang Jim Min và cộng sự, 1991, lá bách xù có 16 diterpen, trong đó có abieta - 8, 11, 13 - trien - 7ịì - ol, 13 p - hydroxy - 7 - oxoabiet - 8 (14) - en - 19, 6p - olid (juniperolid), 6, 13p - dihydroxy - 7 - oxoabieta - 5, 8 (14) - dien - 19 - al (juniperal), 15 - 0X0 - 16 - norabieta - 7, 13 - dien -19, 6p - olid (norju -níperolid), 13(3, 14p - epoxy - 8 - 0X0 - 7, 8 - secoabietan - 7, 19 - olid (secojuniperolid) và lip - hydroxy - 14 - oxochinan - 19 - al (chinaxoxal) và umbelliferon, 2 - (3, 4 - methylenđioxyphenyl) propan - 1,3 - diol và 13 lignan. Các lignan bao gồm meso - secoisolaricừesinol, 3,4 - methylendioxy - 3', 4’ - dimethoxylignan - 9’, 9 - olid, hibalacton, isohibalacton, 7 - oxohinokínin, 7 - hydroxyhinokinin, 7 - acetoxyhinokinin, (+) - xanthoxylol, dihydrodehydro diconiferyl alcol, 3 - methoxy - 8, 4' - oxyneoligna - 3', 4, 7, 9, 9' - pentol, (8S) - 3 - methoxy - 8, 4’ - oxyneolígna - 8', 4, 9, 9’ - tetraoỉ, (7s, 8S - 3 - methoxy - 3, 7 - epoxy - 8, 4' - oxyneolignan - 4', 9, 9' - triol và isomer 7R, 8S tương ứng. Cũng theo Fang Jim - Min và cộng sự, 1996, lá còn có 19- norabieta - 8, 11, 13 trien - 4 - yl format, 18 - norabieta - 8, 11, 13 - trien - 4 - hydroperoxyd, 19 - norabieta - 8, 11, 13 - trien - 4 - hydroxyperoxyd, 4 - hydroxy - 18 - norabieta - 8, 11, 13 - trien - 7 - on, 4 - hydroxy - 19 - norabieta - 8, 11, 13 - trien - 7 - on, la - hydroxy - 19 - norabieta - 8, 11, 13 - trien - 7 - on, 7a - hydroxy - 19 - norabieta - 8, 11, 13 - trien - 4 - hvdroperoxyd, 19- norabieta - 7, 13 - dien - 4 - ol và 13fJ, 14p - epoxy - 4 - hydroxy - 19 - norabieta - 7 - en - 6 - on. Theo Wang Chengzhang và cộng sự, 1994, lá có polyprenol acetat. Tinh dầu từ lá bách xù có cedrol, thujosen và cedrol. Cành và lá có acid sandaracopừnaric, acid isocupressic, 12 - hydroxy - 6, 7 - secoabieta - 8, 11, 13 - trien, 6, 7 - dial. Vỏ thân thứ J. chinensis L. var. kaizuca có acid 13 - hydroxycupressic và acid cupressic. Gỗ có một bisnorditerpen, 14 diterpen và 12 sesquiterpen, trong đó có acid 15 - hydroxylabda - 8 (17), 11E, 13E - tnen - 19 - oic. Rẻ chứa dimer sesquiterpen chinensiol, nhiều diterpen trong đó có totarol, totarolon, 7 - oxotarol, isototarolenon, 1 - 0X0 - 3p - hydroxytotarol, acid 7ị3 - hydroxy - andaracopimaric. (CA 126: 196. 155s, CA 123: 138. 736j, CA 122: 261.011a, CA 119: 266.485f, CA 118: 19.218d, CA 121: 153. 272 g, CA 118: 77.064m, CA 124: 284.306Í, CA 122: 286. 604j, CA 122: 261.026 j, CA 118: 56.183j).

Tác dụng dược Ịý

1. Tác dụng chống u:

Cao chiết cồn cành lá bách xù và một số thành phần như acid sandaracopiinaric, acid isocupressic, 12 - hydroxy - 6,7 - secoabieta - 8, 11, 13 - trien - 6, 7 - dial, một số dẫn chất của podophyllotoxin có tác dụng độc, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư bạch cầu P-388 và tế bào sarcoma ở chuột nhắt trắng.

2. Tác dụng gây sẩy thai:

Cao bách xù gây sẩy thai là do tác dụng độc toàn thân của cây, chứ không phải là do tác dụng đặc hiộu trên tử cung. Vì vậy không nên dùng bách xù để gây sẩy thai.

3. Tác dụng độc: Tinh dầu bách xù có tác dụng kích ứng cục bộ, bôi trên da lâu ngày sẽ gây viêm da. Nếu uống quá liều sẽ gây phản ứng trên đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn, đi ngoài, đau bụng và có thể tử vong.

Tính vị, công năng

Bách xù có vị đắng, cay, thơm, tính ấm, có độc, có tác dụng khu phong, tán hàn, hoạt huyết, tiêu thũng, giải độc, lợi niệu.

Công dụng

Bách xù được dùng chữa cảm mạo phong hàn, co quắp, thổ tả, phong thấp, đau nhức xương, hoàng đản. Ngày dùng 30 - 40g cành lá, sắc uống; hoặc uống tinh dầu, 10-15 giọt với dường, ngày 2-3 lần; kết hợp xoa ngoài. Lá bách xù tươi, giã nát, đắp chữa mày đav, nhọt độc. Bách xù thường được trồng làm cảnh, hạt ép lấy dầu nhờn. Cành lá được dùng cất tinh dầu, mạt cưa của cây và gỗ thân cây để làm hương thắp.

Bài thuốc có bách xù

1. Chữa phong thấp, xương khớp đau nhức: Bách xù, lõi thông, huyết đằng, mộc thông, mỗi vị 10 - 20g, sắc uống.

2. Chữa vàng da do sưng gan hoặc viêm gan mạn: Lõi cây bách xù, thái miếng mỏng, phơi khô, 30g, sắc uống (Bách gia trân tàng).

DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC