Vị thuốc vần B

Ba Chẽ

09:00 15/05/2017

Ba Chẽ có tên đồng nghĩa:Desmodium cephalotes (Roxb.) VVight et Arn.

Tên khác:Niễng đực, ván đất, đậu bạc đầu, tràng quả tam giác, mạy thặp moong (Tày), bièn ong (Dao), đa rò típ (K'ho).

Họ:Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Cây bụi nhỏ, sống lâu năm, cao 0,5 - 2m, có khi hơn. Thân tròn, phân nhiều cành. Cành non mảnh, hình tam giác dẹt, uốn lượn, có cạnh và lông mềm màu trắng, sau nhẵn. Lá kép mọc so le, có 3 lá chét, lá chét giữa to hơn, phiến lá chét nguyên, hình thoi, bầu dục hoặc hình trứng, gốc gần tròn hay tù, đầu nhọn ngắn, mặt trên có lông mềm màu trắng, rối nhẵn, mặt dưới phủ một lớp lông tơ dày, mềm, màu trắng ánh bạc; gân bên mọc gần sít nhau; lá kèm nhỏ. Đặc biệt các lá non ở ngọn phủ lóp lông tơ trắng nhiều hơn cả hai mặt.

Cụm hoa tụ họp ở kẽ lá thành chùm ngắn; lá bắc nhiều, dạng lá kèm, có lông mềm; hoa nhỏ, 10-20 cái, màu trắng; đài có lông mềm, chia 4 thuỳ, thùy dưới dài hơn ba thùy trên; cánh hoa có móng hẹp; bộ nhị bó, bao phấn thuôn màu nâu.

Quả đậu, không cuống, có mép lượn, thắt lại ở giữa các hạt thành 2-3 đốt, có lông mềm màu trắng bạc; hạt 3-5, hình thận.

Mùa hoa: tháng 5-8; mùa quả: tháng 9-11.

Cây dễ nhầm lẫn:

Niễng cái (hàm xì, đậu ma)

- Moghania macrophylla (Willd.) o. Ktze cùng họ. Cây bụi nhỏ. Lá chét có 3 gân chính hình cung xuất phát từ gốc lá. Hoa màu vàng nhạt mọc thành chùm dài. Quả đậu chứa 2 hạt.

Ba chẽ và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Desmodium Desv là một chi lớn, tổng số có khoảng 300 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ và châu Á. Ở Việt Nam, có khoảng 55 loài thuộc chi này. Tuy nhiên, gần đây có tài liệu đã tách từ Desmodium Desv một chi mới là Dendrolobium (Wight & Arnott) Bentham (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam, 1994, T.27: 62 - 70) và loài ba chẽ được xếp vào chi này (Dendrolobium triangulare (Retzius) Schindlex. Cây phân bố rộng rãi ở hầu hết các tỉnh miền núi và trung đu. Độ cao phân bố tới trên lOOOxn. Ba chẽ còn có ở nhiều nưóc nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á khác.

Ba chẽ thuộc loài cây ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc trên các vùng nương rẫy cũ, ven đồi, ven các rừng thứ sinh ở vùng thấp. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Khi chín, quả tự tách đôi cho hạt thoát ra ngoài. Do hạt phát tán gần, nên cây thường mọc tập trung thành những đám lớn, rộng tới vài trăm mét vuông, lấn át cả những loại cây khác. Xuất phát từ những đặc điểm này, có thể dùng ba chẽ là cây phủ xanh tạm thời trên đất sau nương rẫy. Thân và cành được sử dụng làm củi, lá làm thuốc và làm phân xanh.

Cách trồng

Ba chẽ ưa khi hậu nhiệt đới, không kén đất, trồng được cả trên các gò đồi khô hạn.

 Cây chưa được trồng tập trung trên diện tích lớn, nhưng lại được trồng phân tán trong các vườn thuốc ở khắp nơi. Ba chẽ được nhân giống khá dễ dàng bâng hạt hoặc bằng cành. Vào tháng 7-8, thu lấy những quả chín già (nhưng chưa tung mất hạt) đem phơi lấy hạt để đến mùa xuân thì gieo trong vườn ươm. Trồng ít có thể gieo trong chậu hoặc khay nhỏ. Khi cây cao 20 - 30cm thì đánh đi trồng. Cũng có thể dùng cành cắm xuống đất, cây vẫn mọc.

Nếu trồng thành luống hoặc ô thì sau khi làm đất, lên luống, trồng với khoảng cách 0,8 X 0,8m hoặc 1 X lm. Có thể bón lót cho mỗi hốc 2 - 3 kg phân chuồng hoai mục. Phân được trộn đều với đất, sau đó đặt cây, lấp đất, dận chặt và tưới nước. Thời kỳ đầu cần bảo đảm đủ ẩm để cây nhanh bén rễ. về sau không cần chăm bón nhiều. Kinh nghiệm cho thấy, bón thúc vào tháng 3 - 4 và tháng 10-11 tạo thuận lợi cho cây sinh trưởng và qua đông tốt hơn.

Ba chẽ sống khoẻ, ít bị bệnh. Mùa hè có thể bị sâu cuốn lá, sâu róm, sâu xanh. Có thể diệt trừ bằng tay. Lá thu hoạch quanh năm, khi cần.

Bộ phận dùng

Lá thu hái vào tháng 7-9, dùng tươi hoặc phơi sấy khô ở nhiệt độ không quá 50°c. Dược liệu được bào chế thành dạng cao nước, cao khô và dập thành viên nén. Các thí nghiệm cho thấy tác dụng kháng khuẩn của ba chẽ giảm dần theo thời gian bảo quản của nguyên liệu. Rễ cây cũng được coi là vị thuốc làm mạnh gân cốt.

Thành phần hóa học

Lá ba chẽ chứa tanin, flavonoid, acid hữu cơ và alcaloid.

Tác dụng dược lý

1. Trong thí nghiệm in vitro, tác dụng kháng sinh rõ rệt đối với các trực khuẩn ly: Shigella dysenterìae, Shigella shigae. Cao nước có tác dụng mạnh hơn cao cồn, độ cồn của dung môi càng cao thì tác dụng kháng khuẩn càng giảm. Nó cũng có tác dụng ức chế Staphylococcus aureus, và ức chế yếu hơn đối với Sh. ịỉexneri, Sh. sonnei, Escherichia coli. 2

. Tác dụng chống viêm rõ rệt đối với cả hai giai đoạn cấp và bán cấp của phản ứng viêm thực nghiệm.

3. Tác dụng gây thu teo tuyến ức chuột cống non khá mạnh.

4. Trong những thí nghiệm về độc tính cấp và bán cấp, thuốc tỏ ra không độc.

5. Lá ba chẽ, phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thích hợp, lá còn giữ được màu xanh, có tác dụng kháng khuẩn tốt hơn lá phơi đến úa vàng.

Công dụng

Theo kinh nghiệm nhân dân ở nhiều vùng trung du, lá ba chẽ được sử dụng chữa lỵ.

Cách dùng như sau:

lá hái về phơi khô hay sao vàng, mỗi ngày dùng 30 - 50g, thêm nưóc, đun sôi chừng 15 phút đến nửa giờ. Chia 2-3 lần uống trong ngày. Uống liên tục từ 3 - 5 ngày tùy theo bệnh nặng hay nhẹ.

Dùng ngoài, lá ba chẽ tươi giã hay nhai nát, nuốt nứơc, bã đắp để chữa rắn cắn. Viên ba chẽ (bào chế từ cao lá ba chẽ) đã được nghiên cứu để chữa các bệnh ỉa chảy và lỵ trực khuẩn có hiệu qủa. Viên ba chẽ có tác dụng chữa các chứng bệnh như lỵ trực khuẩn, hội chứng lỵ và ỉa chảy ở người lớn và trẻ em. Bệnh khỏi tương đối nhanh, thời gian chữa cũng khá ngắn.

Đối với bệnh nhân ỉa chảy nặng có biểu hiện rối loạn nưóc và điện giải, khi điều trị bằng viên ba chẽ cũng như với các thuốc kháng sinh khác, cần phối hợp truyền dịch để hồi phục cân bằng nước và điện giải.

Liều sử dụng viên ba chẽ: ngày uống 10 - 15 viên chia 2-3 lần sau bữa ăn (mỗi viên có 0,25g cao khô lá ba chẽ). Khi đã khỏi bệnh, nên giảm liều, rồi ngừng thuốc. Nếu dùng thời gian dài, co thể bị táo bón. Thuốc không gây tác dụng phụ. Liều dùng cho trẻ em được tính tùy theo tuổi.

Ba Chẽ 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC