Vị thuốc vần C

Cà Phê

10:52 15/05/2017

Tên khác: Cà phê chè.

Tên nước ngoài: Arabian coffee (Anh), caféier d’ Arabie (Pháp).

Họ: Cà phê (Rubiaceae).

Mô tả

Cây nhỏ, mọc sum sê, luôn xanh, cao 6 - 10m. Thân cành hình trụ hoặc hình vuông, phân nhánh nhiều. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 10-15 cm, rộng 5-6 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mặt trên xanh sẫm bóng, mặt dưới rất nhạt, gân nổi rõ, mép uốn lượn; cuống lá dài 0,7 - 1 cm; lá kèm có gốc rộng, đầu nhọn.

Hoa mọc tụ tập ở kẽ lá, màu trắng, rất thơm; đài cụt; tràng hình ống ngắn, 5 cánh hoa đều; nhị 5 đính ỏ họng tràng, xen kẽ với cánh hoa; bầu 2 ô, mỗi ô chứa 1 noãn.

Quả hạch, hơi dẹt, lúc đầu màu lục, sau vàng với màu đỏ, chứa 2 hạt dẹt, hơi cong, màu xám.

Mùa hoa quả: tháng 11-4.

Cà phê  và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Phân bố, sinh thái

Với dặc điểm hoa mọc tụ tập dạng xim co, chi Coffea L. dược xếp trong họ phụ ĩxoroideae (họ Rubiaceae) và tông Coffeae. Chi này có khoảng gần 100 loài và dưới loài, phân bố rải rác khắp vùng nhiệt đới, nhưng tập trung nhiều nhất ỏ vùng nhiệt đới của châu Phi.

Hiện nay, có 3 loài và rất nhiều giống cà phê được trồng rộng rãi trên thế giới. Về nguồn gốc phát nguyên của chúng cụ thể như sau:

1. Cà phê chè (Coffea arabica L.; Syn. c. vulgaris Moench; c. angustí folia Roxb.; c. sudaría Miquel). Có nguồn gốc từ vùng cao nguyên phía tây - nam Ethiopia, là nơi hiện có mức đa dạng di truyền cao nhất của loài này trên thế giới. Cà phê chè được người Ả Rập trổng đầu tiên ở Yemen vào thế kỷ XII. Đến thế kỷ XVI và XVII, cây được du nhập sang vùng Nam Á là Ân Độ và Xrilanca. Sau dó, cà phê chè được trồng ở dảo Java (Indonexia) năm 1710, ở vùng Caribê và Nam Mỹ (thế kỷ XVIII). Hiện nay, cà phê chè đang được trồng nhiều ở vùng châu Mỹ la tinh, Trung Phi, Ấn Độ, Papua New Guinea, Indonexia, Philippin, Mianma, Thái Lan và Việt Nam.

2. Cà phê vối (C. canephora Pierre ex Froehn.; Svn. c. robusta Linden; c. laurentii De Wild., c. ugandae Cramer). Có nguồn gốc ở vùng rừng xích đạo châu Phi, từ Guinea đến Uganda. Cà phê vối cũng sớm được thuần hóa và trổng ở châu Phi; đến năm 1900 du nhập vào đảo Java, sau đó tiếp tục được đưa sang nhiếu nước nhiệt đới khác. Hiện nay, cà phê vối được trồng nhiều nhất ở Indonexia, sau đó đến Việt Nam, Ấn Độ...

Cà phê mít (C. ỉiberica Bull, ex Hierr.; Syn. c. dewevrei De Wild et Durand, c. arnoldiana De Wild., c. klainii Pieưe ex De Wild., C. dybowskii De Wild., c. excelsa A. Chev., C. abeokutae P.J.S. Cramer). Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Trung và Tây Phi. Năm 1792, cây được trồng đầu tiên ở Liberia; từ năm 1872 - 1875 nhập vào Indonesia; đến 1880 được trồng ở bán đảo Malaysia. Hiện nay, cà phê mít được trồng ở nhiều nước như Guyana, Surinam, Sao Tomé, Liberia, Malaysia, Philippin, Sieưa Léone, Nigeria, Congo, Moritani, Xrilanca, Ân Độ, Thái Lan, Đông Timo, Đài Loan và Việt Nam.

Nhìn chung, các loài cà phê là cây nhiệt đới, ưa khí hậu nóng và ẩm; nhiệt độ trung bình 21 - 26°c, tối cao trung bình 34 - 36°, tối thấp trung bình khoảng 10°C; lượng mưa 1400 - 2400 mm/năm. Tuy nhiên, trong số 3 loài cà phê kể trên, cà phê chè trồng được ở cả những vùng xa xích đạo, ở vĩ độ 23° (Bắc và Nam) thuộc Ân Độ, Bắc Việt Nam và Nam Phi... với nhiệt độ không khí trung bình 18 - 22°c, cây vẫn phát triển tốt. Song, cà phê chè sẽ chết nếu gặp sương muối và nhiệt độ hạ thấp xuống gần 0°c.

Cà phê là cây ưa sáng hay có thể hơi chịu bóng. Ở các vùng phân bố nguyên thủy, cà phê thường mọc lẫn trong các kiểu rừng thưa, ở ven rừng hay trên các khoảng trống trong rừng rậm mới được mở tán (do cây gỗ bị đổ hay khai thác). Vì vậy, trong các đồn điền trồng cà phê người ta thưòng trồng xen một số cây họ đậu tán thưa như keo giậu (Leucaena leucocephala (Lamk.) De Wit.), muồng đen (Cassia siamea Lam.) bồ kết (Gleditsia fera (Lour.) Merr.)-.. để tạo bóng. Cà phê có thể sinh trưởng phát triển tốt trên nhiều loại đất, song tốt nhất vẫn là các loại đất đỏ nâu thuộc nhóm bazan và túp hoặc đất đã được phong hóa từ nham thạch núi lửa... Những loại đất này thường có tầng đất thịt sâu khoảng 2m, dễ thấm nước và có hàm lượng mùn cao 2%; pH: 5-6. Duy có loài cà phê mít có thể chịu dược đất chua hơn (pH: 4) và chịu hạn tốt.

Cà phê thuộc loại cày sinh trưởng nhanh. Cây trồng từ hạt sau 3 năm (lnăm ỏ vườn ươm) bắt đầu có hoa; càng về sau lượng hoa quả càng nhiều. Tùv loại cà phê mà thời giati thu hoạch kéo dài từ 20 đến 30 năm. Cà phê nở hoa rộ trong khoảng 15-20 ngày; hoa thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng, tỷ lệ tự thụ phấn chỉ chiếm khoảng 10% (H.A.M. van der Vossen at al., 2000; PROSEA - Stimulants, N° 16 : 69). Hạt cà phê có tỷ lệ nảy mầm cao (đến 95%); khả năng nảy mầm này sẽ giảm dần sau 3 - 6 tháng. Tuy nhiên, nếu được bảo quản ở nhiệt độ 15°c, tỷ lộ nảy mầm cao có thể duy trì được trong thời gian 15 - 30 tháng sau.

Cà phê ở Việt Nam là do người Pháp đưa vào từ cuối thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX. Sau một thời gian ngắn thử nghiệm, đã phát triển thành những đồn điền cà phê lớn ở Tây Nguyên. Hiện nay ở Việt Nam có đủ 3 loài cà phê nói trên (với nhiều loại giống và xuất xứ khác nhau). Các tỉnh ở Tây Nguyên, gồm Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng có diện tích trồng cà phê lớn nhất. Tiếp sau là tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bình Định, Phú Yên... và một số tỉnh ở phía bắc. Tổng diện tích trồng cà phê ở Việt Nam lên đến hàng chục vạn hec ta; sản lượng dành cho xuất khẩu năm 1998 là 400.000 tấn (những năm gần đây đã vượt xa con số này). Với khả năng phát triển nhanh chóng diện tích cà phê như hiện nay, Việt Nam đã vươn lên hàng những quốc gia sản xuất cà phê lớn trên thế giới. Tuy nhiên, do tình trạng phát triển cà phê ồ ạt, nên nạn phá rừng, và làm suy giảm nhanh chóng lượng nước ngầm... đang là những vấn đề nan giải về mặt môi trường sinh thái và đa đạng sinh học ở Việt Nam.

Cách trồng

Trồng cà phê cần chọn đất có tầng canh tác dày trên 70 cm, mực nước ngầm dưới lm, tơi xốp, thoát nước, hàm lượng mùn khoảng 2%, pH gần trung tính. Nếu là đất hoang, cần cải tạo bằng cách cày bừa, trồng 1 - 2 vụ cây phân xanh.

Cà phê có thể nhân giống bằng hạt và giâm cành (trong tương lai, giâm cành có thể thay thế phương pháp nhân giống bằng hạt). Hạt giống cần được xử lý nảy mầm và gieo trong bầu vào tháng 10-12. Thời vụ trồng ở miền Nam vào tháng 5 - 6, ở miền Bắc tháng 8 - 9. Nếu để cây giống trong bầu quá lứa, cần cắt bỏ thân, chỉ để lại khoảng 15 cm. Tùy giống và điều kiện đất đai, chăm sóc, khoảng cách trồng có thể từ 2 X 2m đến 4 X 4m. Khi trồng, đào hố 60 X 60 X 60 cm hoặc hơn, bón lót 10 - 20 kg phân chuồng ủ lẫn với 500 g phân lân nung chảy. Đặt bầu thấp hơn mặt đất và tránh không làm vỡ bầu.

Cần trồng cây che bóng cho cà phê như các cây cốt khí, muổng lá đài, muồng lá tròn vào giữa các hàng để che bóng tạm thời và muổng đen với khoảng cách 10 X 12 m để che bóng lâu dài.

Cà phê cần được bón đầy đủ và cán đối NPK. Nhu cầu phân bón của cây tăng nhanh vào thời kỳ quả lớn và vào năm thứ 3, 4.

Tưới nước quvết định việc ra hoa kết quả và tạo năng suất của cà phê, vì vậy cần tập trung tưới đón hoa, nuôi quả, lượng nưóc tưới 400 - 500 m3/ ha/lần (4 - 6 lần).

Sâu đục thân và bệnh gỉ sắt là 2 loại sâu bệnh nguy hiểm nhất đối với cà phê. Cần chú ý phòng trừ.

Quả cần thu đúng độ chín (2/3 quả màu đỏ) và chế biến kịp thời.

Bộ phận dùng

Hạt. Còn dùng lá.

Thành phần hóa học

Cà phê sống chứa:

- Glucid: có nhiều (chiếm hơn một nửa so với dược liệu khô kiệt) trong đó, có 5 - 8% đường khử và saccharose, ít manitol, polysaccharid (rafinose và stachyose), galactomanan, xylan, araban, hemicelulose, celulose. Không có tinh bột trong hạt già.

- Lipid: 10 - 15% gồm các glycerid của các acid palmitic, stearic, oleic và linoleic. Phần không xà phòng hóa (5%) có sterol và diterpen: cafestol và kahvveol.

- Acid hữu cơ: acid oxalic, acid citric và acid malic (có it), acid ursolic.

- Acid phenol: 5 -10% acid clorogenic.

Sau này, người ta nhận thấy trong cà phê có nhiều đồng phân:

- Acid clorogenic chính tên: acid cafeyl - 3 - quinic (có nhiều nhất).

Acid neoclorogenic (acid cafeyl - 5 - quinic).

- Acid cryptoclorogenic (acid cafeyl - 4 - quinic). 

Acid isoclorogenic là hỗn hợp các ester gồm 2 phân tử acid cafeic liên kết với một phân tử acid quinic.

Cà phê còn chứa các ester khác của acid quinic và các acid cùng họ với acid cafeic: acid p. coumaric và acid ferulic.

Trong cà phê, acid clorogenic chính tên thường kết hợp với cafein dưới dạng phức chất: kali và cafein clorogenat.

Các hợp chất nitơ gồm:

- protid: 10-15%

- trigonelin

- Các base có nhân purin: cafein (1 đến 2,5%), xanthin, guanin, adenin và theobromin.

Cafein có trong nhiều loài Coffea như: c. canephora (1,5 - 2,5, có khi tới 3%), c. arabica 0,8 - 1,5%. Một số loài cà phê hoang dại không có cafein.

Cafein có trong nhiều bộ phận của cây lá: 0,5 - 1,0% (có nhiều trong lá non), hoa: 0,5 - 0,9%, thân:0,08% thịt quả: 0,9%.

Lá và quả chưa chín của loài Coffea arabica chứa acid pipecolic cùng với prolin và hydroxyprolin (CA 124: 141.034 e).

Các chất bay hơi của quả chín loài Coffea arabica gồm nhiều thành phần trong đó có hexanal 21%, 2 - (E) - hexenal 11%, 3 - methyl - 1 - butanol 9%, 3 - methyl - 1 - butanal 8,5%, 1 - hexanol 8,4%, decanal 0,19%, Me hexanoat 0,33%, pulegon 0,44%, a - isomenthon 0,45%, 2 - nonanon 0,55%.

Hoa của loài Coffea arabica chứa một số hợp chất thơm có N như các dẫn chất phenylethan và các epoxygeraniol (2,3 - epoxygeraniol và 6,7 - epoxygeraniol).

Cà phê rang có nhiều thay đổi về hóa học:

Nước giảm khoảng 5%.

Chất vô cơ không thay đổi.

Glucid: thay đổi nhiều. Saccharose có phần chuyển hoá, nhiều chất hòa tan xuất hiện do các polysaccharid không hòa tan chuyển hóa.

Các acid clorogenic bị phân hủy một phần, nhất là các đồng phân không tạo ra phức với cafein.

Cafein có phần bị thăng hoa.

Trigonelin giảm đi vói sự xuất hiện của amid nicotinic (từ 2 mg% ở cà phê sống nay lên tói 13 - 43mg% ở cà phê rang).

Các chất thơm trong cà phê rang Coffea arabica I, c. robusta II là (mg/kg): 2 - furfurylthiol (1,08 I, 1,73 II), methional (0,24 I, 0,095 II, 3 - mercapto - 3 - methylbutyl format (0,13 I, 0,115 II), 2 - ethyl - 3,5 - dimethylpyrazin (0,33 I, 0,94 II), 2,3 - diethyl - 5 - methylpyrazin (0,095 I, 0,31 II), guaicol (4,2 I, 28,2 II), 4 - vinylguaicol (64,8 I, 177,7 II), 4 - ethylguaiacol (1,63 I, 18,1 II), vanilin 4,8 I, 16,1 II), (E) - ß - damescenon (0,195 I, 0,205 II) 4 - hydroxy - 2,5 - dimethyl - 3 (2H) - furanon (109 I, 57 II), 3 - hydroxy - 4,5 - dimethvl - 2 (5H) - íuranon (1,471, 0,6311), 5 - ethyl - 3 - hydroxy - 4 - methyl - 2 (5H) - furanon (0,16 I, 0,085 II), 5 - ethvl - 4 - hvdroxy - 2 - methyl - 3 (2H) - íuranon (17,3 I, 14,3 II) (Mctière méđicale III, 1971, CA 127: 231.878 X, CA 127: 31.554 d, CA 122: 212.353 e).

Tác dụng dược lý

Theo tài liệu nước ngoài, quả cà phô tươi có tác dụng hạ sốt, lợi tiểu. Hạt cà phê rang chế biến thành đổ uống có tác dụng kích thích. Cafein là hoạt chất chính trong hạt cà phê. Nó có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, hệ tim mạch, lợi tiểu và làm giãn cơ trơn.

Đối với hệ thần kinh trung ương, cafein có tác dụng mạnh nhất trong các methylxanthin. Người dùng cafein hoặc đồ uống có chứa cafein cảm thấy tỉnh táo, mất buồn ngủ, ít mệt mỏi và suy tư minh mẫn. Cafein dùng với liều lớn thì kích thích thần kinh trung ương càng phát triển, xuất hiện trạng thái bồn chồn lo lắng, mất ngủ, ở những người quen dùng cà phê, những triệu chứng này nhẹ hơn. Liều cao làm xuất hiộn co giật cục bộ hoặc toàn thân. Cafein còn có tác dụng kích thích hô hấp đặc biệt trong trường hợp bệnh lý như hô hấp bị ức chế bởi các opioid hoặc hô hấp Cheyne stokes. Đối với hệ tim mạch, cafein có tác dụng làm giảm trở kháng ngoại vi, kích thích tim. Liều 250 - 350 mg cafein gây nôn nhịp tim nhanh, huyết áp tăng nhẹ cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương, nhưng cũng với liều trên dối với những người thường xuyên dùng cà phê thì các triệu chứng trên không xuất hiện. Ớ nồng độ cao hơn, cafein có tác dụng làm tăng nhịp tim rõ rệt, ở những ngưòi mẫn cảm có thổ xuất hiện loạn nhịp tim; hiộn tượng này cũng gặp ở những người dùng quá nhiều đồ uống có cafein, Tuy vậy, ở những người khỏe mạnh bình thường, nguy cơ xuất hiện loạn nhịp tim do cafein là rất thíp. Đối vói cơ trơn, cafein có lác dụng làm giãn cơ trơn khí phế quản đặc biệt đối với khí phế quản bị co thắt như ở những bệnh nhân hen suyỗn trên lâm sàng hoặc trong các mô hình gày co thẳt khí phế quản thực nghiệm. Đối với cơ vân, cafein có tác dụng tàng cường khả nãng làm viộc của cơ bắp ở người. Caíein với liéu 6 mg/kg làm tăng khả năng chạy đua của nhũng vận dộng viên trượt tuyết. Đối với hệ tiết niệu, cafein tăng cường sự hình thành nước tiểu, gia tăng tốc độ lọc của cầu thận và tăng lượng máu qua thận.

Công dụng

Cà phê được dùng làm đồ uống dưới dạng chiết hăm bằng nước sôi từ bột hạt cà phê rang, hoặc dưới dạng cà phê tan. Uống cà phê làm mất buồn ngủ, giúp tinh thần tỉnh táo, giảm cảm giác mệt mỏi. Còn đùng làm thuốc lợi tiểu, chữa phù thũng, giúp tiêu hóa. Uống quá nhiều đồ uống có cà phê gây rối loạn tiêu hóa được xem là do chất caíeotoxin, một thành phần độc bay hơi được hình thành trong quá trình rang cà phê và chỉ có một phần bay hơi.

Alcaloid cafein và các dạng muối như cafein citrat và cafein natri benzoat được dùng trong trường hợp cấp cứu ngộ độc opioid và các thuốc gây ngủ khác. Trong nhân dân, hạt cà phê sống giã nát ngâm với rượu uống chữa tê thấp, sốt rét. Cà phê rang uống có tác dụng tiêu mỡ, tiêu độc rượu và thuốc phiện. Người khó ngủ không nên dùng cà phê. Lá cà phê sắc uống làm chóng tiêu thức ăn, tiêu nước chữa phù thũng.

Cà Phê 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC