Vị thuốc vần C

Cau

01:57 18/04/2017

Tên khác: Binh lang, tân lang, mạy làng (Tày), pơ lạng (K' Ho).

Tên nước ngoài: Areca - nut palm, betel - nut palm, areca palm, penang palm, catechu palm (Anh); aréquier, noix d'arec (Pháp).

Họ:Cau (Arecaceae).

Mô tả

Cây có thân mọc thẳng đứng, cao 15 - 20m. Thân hình trụ rỗng, có nhiều vòng đốt là vết tích của những tàu lá rụng; gốc thân hơi phình ra, mang nhiều rễ nổi trên mặt đất. Ở ngọn thân có một chùm lá rộng; lá có cuống và bẹ to, mang hai dãy lá chét xếp đều đặn dạng lông chim, lá chét hẹp ngang, màu lục bóng, có gân to.

Cụm hoa là một bong mo phân nhánh, thường gọi là buồng, bao bọc bởi một mo rụng sớm; hoa đực rất nhiều ở trên, nhỏ, rất thơm gồm 3 lá đài màu vàng lục, 3 cánh hoa màu trắng, 6 nhị; hoa cái to hơn, bao hoa không phân hoá, bầu trên 3 ô.

Quả hạch, hình trứng, vỏ quả ngoài mỏng, nhẵn bóng, khi chín màu vàng đỏ, vỏ quả giữa cứng và nhiều xơ; hạt hơi hình nón cụt đầu tròn, màu nâu nhạt.

Mùa hoa: tháng 5; mùa quả: tháng 10.

Phân bố, sinh thái

Chi Areca L. có khoảng 20 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Đại Dương. Tuy nhiên, trung tâm đa dạng của chi này lại ở vùng nhiệt đới Ấn Độ - Malaysia. Ở Việt Nam có 3 loài.

Cau là cây có nguồn gốc ở Malaysia, sau được nhập trồng sang các nước khác ở Đông Nam Á và Nam Á như Philippin, Thái Lan, Indonesia (Sumatra, Java), Srilanca, Mianmar và sang cả Mađagasca và Đông Phi. Cây được trồng với nhiều mục đích, trong đó có việc lấy quả để ăn trầu. Một số loài khác cũng cho quả được đùng ăn trầu như Areca concinna (ở Srilanca, Naga và Assam - Ân Độ); A. triandra (ở đảo Andaman - An Độ và Sumatra - Indonesia).

Cau là cây trồng lâu đời và rất quen thuộc ở Việt Nam. Cây được trồng ở khắp nơi, nhất là vùng trung du và đồng bằng. Các tỉnh phía nam trồng nhiều hơn các tỉnh phía bắc. Cây thích nghi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Nhiệt độ trung bình từ 22 đến 26°c. Ở vùng núi cao trên 1000m ở các tỉnh phía bắc, không trồng được cau. Cây trồng từ hạt sau 4-5 năm có thể có hoa quả lứa đầu. Các năm về sau hoa quả nhiều hơn. Cây có thể sống được 60, thậm chí 100 năm (The Wealth of India, voL I, 1984, 109 - 111).

Cách trồng

Cau được trồng phổ biến xung quanh nhà, trong vườn xen lẫn với các loại cây ăn quả hoặc thành vườn cau tập trung để lấy quả. Đất trồng cau thường có tầng canh tác dày, nhiều màu, đủ ẩm và thoát nước. Những nơi có khí hậu lạnh quanh năm không thích hợp cho việc trồng cau. Cây ưa bóng lúc còn nhỏ, nhưng lại cần có đầy đủ ánh sáng lúc trưởng thành.

Cau được nhân giống bằng quả. Mỗi quả chỉ cho một cây con. Cần chọn cây có 15 - 25 năm tuổi, sống khoẻ, năng suất cao, quả chín tập trung để thu quả làm giống. Khi quả chín, hái lấy những quả màu vàng tươi, tròn đều, không sâu bệnh, cắt bỏ cuống (tránh cắt phải phôi) để ủ mầm. Chọn nơi râm mát, đổ quả thành đống dày không quá 15 cm, dùng bao tải ướt phủ lên. Sau 20 - 25 ngày, mầm xuất hiện, có thể đem ươm trong vườn ươm.

Vườn ươm cần chọn đất tốt, tơi xốp, tưới tiêu thuận tiện, dưới bóng râm càng tốt. Đất cần làm nhỏ, lên thành luống cao 20 - 25cm, rộng 70 - 80cm, bón lót một ít phân chuồng mục và đặt quả với khoảng cách 30 X 30cm. Chú ý đặt đáy quả hướng lên trên, lấp đất rồi dùng rơm rạ phủ lên và tưới ẩm. Sau 20 - 30 ngày mầm sẽ mọc nhú lên khỏi mặt đất. Lúc này, nếu vườn ươm bố trí ở chỗ nắng cần phải làm giàn che cho cây. Từ khi cây xoè lá, bắt đầu tăng dần độ chiếu sáng. Chú ý làm cỏ, bón phân một năm 2-3 lần. Sau 2 - 3 năm, khi cây cao khoảng lm, có thể đánh để trồng. Thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2-3, ngoài ra cũng có thể trồng vào tháng 9-10.

Cau được trồng theo hố với khoảng cách 2,5 - 3 X 3m. Hố sâu 45 - 50cm, đường kính 50 - 60cm và được bón lót 10 - 15kg phân chuồng mục, 1 - 2 kg supe lân. Sau khi đặt cây, cần lấp đất, dận chặt và tưới nước. Kinh nghiệm nhân dân nhiều nơi cho thấy, hố lót với vỏ sò, vỏ hến, mảnh gạch ngói vỡ cho kết quả rất tốt. Để tránh héo khi mới trồng, cần cắt bỏ 1/2 tàu lá, trừ lá nõn. Mỗi ngày nên tưới một lần cho tới khi cây bén rễ, mọc lá mới. Hàng năm cần làm cỏ, bón phân, vun gốc 2-3 lần. Sau 5-6 năm, cau bắt đầu ra quả. Từ thời gian này trở đi, mỗi năm chỉ cần bón thúc 1-2 lần vào thời kỳ cây chuẩn bị ra hoa và khi hình thành quả. Mỗi cây có thể cho 1 - 2 buồng. Mỗi buồng cau 100 - 200 quả.

Bộ phận dùng

Hạt đã phơi hay sấy khô lấy từ quả cau già. Hạt hình trứng, hơi rộng ở dưới, đáy phẳng, lõm ở giữa, màu nâu nhạt, mặt ngoài có gân hình mạng. Phôi nhỏ nằm ở đáy hạt. Hạt phải khô chắc, không mọt, mặt ngoài không nhăn nheo là tốt.

Có tài liệu cho biết phải nhúng vào nước sôi trước khi phơi hay sấy khô.

Có 3 dạng dùng:

Dạng sống: hạt được ngâm trong nước cho đến khi ẩm đều, thái mỏng và phơi trong râm.

Dạng sao vàng.

Dạng thán sao.

Hạt cau đã được ghi vào Dược điển Việt Nam I, tập I, Dược điển Trung Quốc 1997 (bản tiếng Anh), Dược điển Pháp VIII.

Có 2 thứ hạt cau:

Hạt cau rừng (sơn binh lang) hạt nhỏ, nhọn, chắc.

Hạt cau nhà (gia binh lang) hạt to hình nón cụt.

Theo kinh nghiệm nhân dân, hạt cau rừng tốt hơn hạt cau nhà.

- Vỏ quả đã phơi hay sấy khô. Theo Dược điển Trung Quốc 1997 (bản tiếng Anh), có 2 loại vỏ cau:

- Đại phúc bì thu hái từ quả chưa chín, bỏ vỏ xanh ngoài. Sau khi đồ, bổ dọc làm đôi, bóc lấy vỏ,phơi hay sấy khô.

- Đại phúc mao thu hái từ quả chín, bỏ vỏ ngoài. Sau khi dồ, bổ dọc làm đôi, giã nát, phơi khô.

Có nơi dùng mo cau (bẹ buồng cau) làm đại phúc bì.

Thành phần hóa học

Hạt chứa 10 - 15% dầu béo, trong dầu có các glycerid của acid lauric 50%, acid myristic 21%, acid oleic 29%, protid 5 - 10 %, glucid (manan. galactan) 50 - 60%, tanin (thuộc nhóm tanin catechic 15%, alcaloid ở dạng kết hợp với tanin 0,3 - 0,5%, các alcaloid là arecolin (alcaloid chủ yếu) 0,2%, nor- arecolin, arecaidin (arecain), guvacin, isoguvacin, arecolidin, guvacolin.

Arecolin (methyl ester của acid 1, 2, 5, 6 tetrahydro - 1 methyl - 3 pyridin carboxylic) là chất lỏng như dầu, không màu, không mùi, có tính kiềm mạnh, sôi ở 209°c, có thể cất kéo được bằng hơi nước, dễ tan trong nước, cồn, ether, cloroform. Cho muối kết tinh với acid, pk 6,84, k 1,5 X 10'7 D JƯ20 1,0495. Arecolin được dùng dưới dạng clohydrat, bromhydrat. Các alcaloid có ở vỏ hạt và các tổ chức thâm nhập.

Theo quy định của Dược điển Việt Nam 1, tập 2, Dược điển Trung Quốc 1977 (bản tiếng Anh) hàm lượng alcaloid toàn phần phải đạt 0,3 % tính theo arecolin. vỏ quả cau cũng chứa những alcaloid như ở hạt (arecolin, guvacolin, guvacin...) nhưng với hàm lượng rất thấp.

Ngoài ra, hạt cau còn chứa saponin, sitosterol, caroten, các nguyên tố Cu, Zn, Mg, Ca và các chất kháng virut NF - 861, NF - 8611, MPF - 86A, NPF - 86IB, NPF - 86IIA, NPF - 86IIB.

Tác dụng dược lý

Arecolin, hoạt chất chính trong hạt cau là một chất cường đối giao cảm (parasympathomimetic). Arecolin và hạt cau có những tác dụng dược lý sau:

1. Tác dụng diệt giun sán. Đối với sán lợn và sán bò, arecolin và hạt cau có tác dụng làm liệt cơ qua tác dụng ức chế các hạch thần kinh và khớp thần kinh - cơ, làm cho sán không bám được vào thành ruột nên bị tống ra ngoài cùng với phân. Thử nghiệm trên ống kính, nước sắc hạt cau và arecolin còn có tác dụng diệt giun kim và giun đũa.

2. Tác dụng đối với hệ thần kinh. Giống như muscarin, arecolin kích thích các thụ thể cholin - M của thần kinh đối giao cảm, làm tăng sự phân tiết các tuyến như tuyến nước bọt, tuyến mồ hội, gây thu nhỏ đồng tử, tăng cường nhu động ruột, gây co thắt khí phế quản, giảm nhịp tim, gây dãn mạch máu, hạ huyết áp.

Đối với thần kinh trung ương có tác dụng giống cholin, trên chuột cống trắng tiêm phúc mạc với liều 10mg/kg arecolin gây co giật đồng thời làm tăng nồng độ acetylcholin trong não. Các thành phần tan trong nước, hexan, cồn ethanol của hạt cau đã được chứng minh là có tác dụng chống trầm uất, chúng ức chế men monoamin oxidaza (MAO). Trong đó thành phần tan trong nước có tác dụng mạnh nhất. Arecolin còn có tác dụng làm hạ nhãn áp.

3. Tác dụng kháng nấm, kháng virus. Nước ngâm hạt cau thí nghiệm trên ống kính có tác dụng ức chế một số nấm gây bệnh ngoài da. Dịch chiết nước và nước sắc từ hạt cau có tác dụng ức chế vừus cúm týp A.

4. Các tác dụng khác. Gần đây từ hạt cau, người ta chiết được một số hợp chất polyphenol mới được đặt tên là NPF - 86IA, NPF - 86 IB, NPF - 86 - IIA và NPF - 86 IIB, những chất này có tác dụng ức chế men 5 - nucleotidaza (5' - nucleotidase); dùng điều tn thực nghiệm trên súc vật, chúng có tác dụng chống u báng Ehrlich (Ehrlich ascites carcinoma) được truyền cấy qua xoang bụng chuột nhắt trắng. Dạng chiết thô và chất polyphenol chiết từ hạt cau có tác dụng làm chóng lành vết thương, còn arecoline không có dụng này.

Đại phúc bì: chưa thấy có tài liệu nghiên cứu về dược lý.

Tính vị, công năng

Theo y học cổ truyền, hạt cau có vị đắng, chát, tính ôn, vào các kinh tỳ, vị, đại tràng, có tác dụng diệt trùng, tiêu tích, hành khí, lợi thuỷ.

Đại phúc bì có vị cay, tính hơi ôn, vào 5 kinh: tỳ, phế, vị, đại tràng, tiểu tràng. Có tác dụng hạ khí, khoan trung, hành thuỷ, tiêu thũng.

Công dụng

Hạt cau và hoạt chất arecolin thường được dùng làm thuốc trị bệnh giun sán cho gia súc gia cầm, như đối với chó thì liều dùng để trị sán của hạt cau là 4 - l0g hoặc arecolin bromhydrat là 1 - 15mg tùy theo thân trọng.

Đối với người, hạt cau phối hợp với hạt bí ngô dùng làm thuốc diệt sán. Cách dùng như sau: sáng sớm lúc đói bụng ăn 60 - 120g hạt bí ngô cả vỏ hoặc 40 - 100g hạt đã bóc vỏ. Hai giờ sau uống nước sắc hạt cau với liều 30g cho trẻ con dưới 10 tuổi, 50 - 60g cho phụ nữ và đàn ông bé nhỏ, 80g cho ngưòi lớn. Nước sắc hạt cau chế với liều trên, đun với 500ml nước, sắc đặc còn khoảng 150 - 200ml. Nhỏ dung dịch gelatin 2,5% để kết tủa hết tanin, xong lắng gạn và lọc, đun sôi còn 100 - 150 ml. Uống hết một lần. Sau khi dùng nước sắc hạt cau nửa giờ, uống một liều thuốc tẩy (magie Sulfat 30g). Nằm nghỉ đợi thật buồn đi ngoài, đại tiện trong một chậu nước ấm, nhúng cả mông vào. Chú ý trước khi đun sôi, ngâm nước hạt cau sẽ có tác dụng hơn không ngâm nước.

Dung dịch 1% arecolin bromhydrat có tác dụng gây thu nhỏ đồng tử mạnh, có thể dùng làm thuốc hạ nhãn áp trong bệnh glôcôm (glaucome), nhưng hiện nay ít dùng do có tác dụng phụ kích thích giác mạc.

Đại phúc bì chữa thấp trỡ, khí trệ, phù toàn thân, bụng đầy trướng, đại tiện không thông, tiểu tiện khó khăn. Liều: 6 - 9g sắc uống cùng với nhiều vị thuốc khác.

Bài thuốc có hạt cau

1. Chữa sốt rét:

Hạt cau 2g, thường sơn 6g, thảo quả lg, cát căn 4g; nước 600ml. sắc đặc còn 200 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.

2. Chữa khó tiêu, bụng đầy trướng:

Hạt cau l0g, sơn tra l0g. sắc nước uống.

3. Chữa phù toàn thân, bụng trướng, mạch phù.

Đaị phúc bì (chích), tang bạch bì (chích) phục linh bì, sinh khương bì, trần bì (ngũ bì ẩm). Mỗi thứ lượng bằng nhau. Mỗi lần dùng 12g, sắc nước uống hoặc nghiền thành bột uống.

4. Chữa ngoại cảm phong hàn, nội thương thấp trệ, tức ngực, bụng đau, nôn mửa, miệng nhạt:

Đại phúc bì, bạch chỉ, tử tô, phục linh, mỗi thứ 30g, bán hạ, bạch truật, trần bì, hậu phác, cát cánh mỗi thứ 60g, hoắc hương 90g, cam thảo (chích) 70g. Tất cả nghiền thành bột uống mỗi lần 6g, hoặc sắc uống cho thêm 3 lát gừng sống và 1 quả đại táo.

Cau 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC