Vị thuốc vần D

Đu Đủ

02:08 04/05/2017

Còn có tên là phan qua thụ, lô hong phlê (Cãmpuchia), mắc hung (Lào), cà lào, phiên mộc.

Tên khoa học Carica papaya L.

Thuộc họ Đu đủ Papayaceae.

Cây đu đủ cung cấp các bộ phận sau đây dùng làm thuốc: Quả đu đủ xanh và chín, hạt đu đủ, hoa đu đủ, nhựa đu đủ, papain, chất ancaloit: cacpain. Công dụng của đu đủ ngày càng phát triển, nhiều nước đã chú ý trồng để dùng trong nước và xuất khẩu. Nước Tăngianica ở đông châu Phi với diện tích 939.000km2 và 7 triệu rưỡi dân hằng năm đã xuất cảng từ 102.819kg (1944) đến 132.537kg (1948) nhựa đu đủ. Nước Uganda (châu Phi) với diện tích 240.000km2 và gần 5 triệu dân đã xuất 35.528kg (1944) và 54.920kg (1948) nhựa đu đủ.

A. Mô tả cây

Cây đu đủ cao từ 3 đến 7m, thân thẳng, đôi khi có phân nhánh, vỏ mang rất nhiều sẹo của cuống lá. Lá mọc so le ở ngọn cây, phiến lá to rộng chia làm 6-9 thùy, thùy hình trứng nhọn, mép có răng cưa không đều, cuống lá rỗng và dài 30-50cm.

Hoa trắng nhạt hay xanh nhạt, khác gốc. Hoa đực mọc ở kẽ lá thành chùy có cuống rất dài. Hoa cái có tràng đài hơn tràng của hoa đực, mọc thành chùy ở kẽ lá.

Quả thịt, hình trứng to, dài 20-30cm, đường kính 15- 20cm. Thịt quả dày, lúc đầu có màu xanh lục, sau ngả màu vàng cam. Trong ruột quả có rất nhiều hạt đen to bằng hạt tiêu, xung quanh có lớp nhầy. Do nhu cầu papain trên thị trường quốc tế tăng nhanh, gần đây Khoa làm vườn thuộc Trường Đại học nông nghiệp Tamil Nadu ở Coimbatore chia làm 2 hoặc 3 lần uống (đơn thuốc của Diệp Quyết Tuyền).

Chữa ăn uống không tiêu, bụng đầy, đi lỵ. Ân Độ) đã nghiên cứu và chọn được giống đu đủ đặt tên CO.5 (xuất phát từ giống CP.15) có hàm lượng papain cao: Mỗi quả cho 14-15g pa- pain khô, trong khi mức kỷ lục thế giới trước đây chỉ 3-4g papain khô mỗi quả, và giống CO2 trồng trước đây chỉ cho có 4-5 g papain khô/quả. Giống đu đủ CO.5 cao trung bình khoảng 90cm, cuống lá, thân cây, cánh hoa, nhị hoa và quả đều có màu đỏ tía.

Quả cây to và nặng hơn giống C0.2. Quả đu đủ sau khi lấy papain vẫn còn dùng trong công nghiệp thực phẩm vì hoạt tính phân giải protein vẫn còn cao (11,6 đơn vị) và hàm lượng protein cũng cao: 72,2%. Cũng như các giống đu đủ khác co.5 có thể trổng bất cứ vào mùa nào và trên mọi loại đất ở Tamil Nadu đến độ cao l.OOOm. Mỗi cây cho từ 75-80 quả trong 2 năm, mỗi quả nặng 2-2,5kg, năng suất mỗi ha 500 tấn quả, và 1.500-1.600kg papain khô/ha. Tỷ lệ chi phí trồng trọt so với lợi tức thu được là 1/3,3- Nông dân có thể trồng đu đủ này ờ những mảnh đất khó trồng trọt và ít mưa (New Delhi KHKJKT thế giới, 33, 15/8/1985).

Đu đủ và tác dụng chữa bệnh của nó

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Nguồn gốc cây đu đủ là vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau được phổ biến đi khắp nơi. Tại Việt Nam, cây đu đủ được trồng ờ khắp nơi, nhưng việc trồng trẽn quy mô kỹ nghệ chưa được đặt ra. Trồng bằng hạt: Có thể gieo rồi đánh cây con sang chỗ khác hoặc trồng ngay tại chỗ bằng cách đào lỗ, mỗi lỗ gieo 3-4 hạt. Vấn đề khó trong việc trồng đu đủ là phân biệt được cây đực, cây cái. Có người nói hạt đu đủ cái đen hơn và cây đu đủ cái con có rễ cong queo nhưng chưa có cơ sờ chính xác. Sau khi trồng được 8 hay 10 tháng đã bắt đầu thu hoạch, nhưng thu hoạch cao nhất từ năm thứ 3 trờ đi.

C. Thành phần hóa học

Quả đu đủ chín chứa chừng 90% nước, các chất đường trong đó chủ yếu là glucoza 8,5%, một ít protein, chất béo, một ít muối vô cơ (canxi, photpho, sắt) vitamin A, B và c. Năm 1946, Solano Salcedo đã nghiên cứu quả đu đủ ở châu Mỹ thấy: Axit toàn bộ 7%; axit bay hơi 1,3%; axit không bay hơi 6,1%; nước cây như thân, rễ, lá đều chứa một chất nhựa mủ 64%; xenluloza 0,9-11%; đường 4,3-7% chất có nitơ (Nx0,65) 0,6-0,86%; protein tinh chế 0,35%-0,64%. Không phải protein 0,035%; pro- tein tiêu hóa được 0,38-0,47%; photpho 0,223%; canxin 0,245%; magiê, sắt, thiamin, riboflavin và vitamin c. Quả đu đủ xanh và các bộ phận khác của Trong lá, quả và hạt (chủ yếu ở lá) có một chất ancaloit đắng gọi là cacpain và chất glucoxit (latex) nhiều nhất ờ quả xanh. Một quả xanh cho chừng 4% trọng lượng nhựa mủ. Một cây cho khoảng l00g nhựa trong một năm. Cần lấy nhựa khi quả còn ở trên cây: Dùng dao hay răng lược vạch những đường dọc trên quả (đừng vạch sâu quá) hứng lấy nhựa đã chảy ra phơi khô ờ nhiệt độ 50-60°. Trong quả chín chất nhựa mủ không còn nữa mà chỉ còn thứ nhựa (résine) màu vàng đỏ. Quả chích nhựa chóng chín hcm, nhưng hạt gieo không mọc. Trong nhựa mủ có men papain, chất cao su, chất nhựa, các axit amin: leuxin, tyrosin, chất béo, axit malic và men thủy phân, chất mỡ, chất men papain có tác dụng làm tiêu hóa các chất thịt; prôtit để giải phóng các axit amin như glycocola, alanin, acginin, tryptophan. Tác dụng tiêu hóa thịt của men papain tiến hành ở môi trường axit, trung tính hoặc hoi kiềm, tốt nhất ở pH 6,4-6,5. Nhiệt độ thích hợp khá cao, có thể tới 80-85°. Nhưng cao hơn 90° sẽ mất tác dụng. Ở nhiệt độ thường, khi cho tiếp xúc men papain với lòng trắng trứng thì lòng trắng trứng mất tính chất sánh sền sệt. Men papain tan trong nước (1 thể tích nước), bị cồn làm kết tủa, cho các phản ứng của anbumin (phản ứng biurê). Trong men papain có tác giả thấy rất nhiều men peroxydaza, một ít men lipaza. Men papain không đề dành được lâu. Sau 7 năm, men papain có thể mất tính chất làm tiêu prôtit. Người ta đã kết tinh được papain.

Thành phần cấu tạo papain có 52,1% C; 7,12% H; 15% N và 1,2%’s. gọi là cacpozit. Công thức của cacpain đã được xác định như sau: Cacpain kết tinh dưới dạng khối lăng trụ đơn tà (prisme monoclinique) chảy ở 121°, không tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ. Tác dụng của cacpain gần như digitalin là một thuốc mạnh tim. Trong hạt và các bộ phận khác người ta có ít thấy các tế bào chứa châts  myrozin và các tế bào khác chứa chất kali myronat. Khi giã hạt với nước, hai chất đó tiếp xúc với nhau sẽ cho tinh dầu có mùi diêm sinh, hắc, giống chất isothioxyanat allyl. Trong rễ người ta thấy nhiều kali myronat, trong lá nhiều myroãn, trong vỏ hạt nhiều myroãn và không có kali myronaL Theo Hooper hạt đu đủ có 26,3% dầu; 24,3% chái anbuminôit; 17% sợi; 15,5% hydrat cacbon; 8,8% tro và 8,2% nước.

D. Tác dung dược lý

1. Men papain có tác dụng như men pepsin của dạ dày và nhất là giống men trypsin của tụy tạng trong sự tiêu hóa các chất thịt. Nó làm một số vi trùng Gram dương + và Gram âm - ngừng phát triển. Những vi trùng như Staphyỉlococ, vi trùng thưong hàn rất nhậy cảm đốì với tác dụng của papain (Ann. Inst. Pasteur 77. 208-1949).

2. Papain còn có tác dụng làm đông sữa và tác dụng giảm độc đối với toxin và toxanbumin: 18mg papain trong dung dịch 2%0 trung tính được l0mg rixin là chất độc trong hạt thầu dầu (=10 liều độc rixin), 2mg papain trung tính được 4 liều độc của toxin uốn ván và 10 liều độc của toxin yết hầu. Papain còn trung tính được độ độc của ancalôit như 12,5g papain trung tính được 1 liều độc của stricnin =2,5mg. Nhựa đu đủ được coi là vị thuốc giun ở nhiều nơi. Nó tác dụng trên giun đũa, giun kim, sán lợn (trichine) nhưng không tác dụng đôì với giun móc (ankylostome).

Tuy nhiên cần chú ý cẩn thận: Lợn ăn lá đu đủ để tẩy giun thường bị xuống cân, khó vỗ béo trở lại. Chái cacpain làm chậm nhịp tìm, có người đã dùng thay thế thuốc chữa tìm Digitalis. Gần đây, người ta đã phát hiện thấy hạt đu đù có tính chất kháng sinh mạnh.

E. Công dung và liều dùng

1. Đu đủ chín được coi là một món ăn bồi bổ và giúp sự tiêu hóa các chất thịt, các chất lòng trắng trứng. Bản thân tôi đã chứng kiến một ngưòi sau khi đố nhau đã ăn hết 10 quả trứng gà luộc bị đầy trướng do không tiêu hóa được trong mây ngày, phải ăn đu đủ mới hết.

2. Đu đủ xanh nấu kỹ với thịt gà gần đây được một số đơn vị quân y dùng điều trị bệnh loét dạ dày có kết quả.

Tuy nhiên có một số trưòng hợp xuống cân. Nhân dân còn dùng nấu với những thịt cứng, cho chóng chúi dừ. Quả đu đủ xanh nghiền với nước còn dùng bôi mặt hoặc tay chữa các vết tàn hương ở mặt và tay.

3. Nhựa đu đủ dùng làm thuốc giun nhưng cần chú ý tránh nguy hiểm đôí với trẻ em và ngừời loét dạ đày. Có khi được dùng bôi ngoài chữa trai chân và hột cơm, bệnh sang thấp (eczema) hoặc can tiễn (psoria- sis). Tại Mỹ, nhựa đu đủ dùng trong kỹ nghê chế bia, kỹ nghệ thục phẩm, kỹ nghệ thuốc, kỹ nghệ tơ sợi để làm cho sợi khỏi co, kỹ nghệ làm da. Hằng năm nhập tới hơn 50 tấn nhựa.

4. Lá đu đủ dùng gói những thịt gà cứng để khi nấu chóng mềm, dừ. Nước sấc lá đu đủ dùng giặt những vết máu trên vải và quần áo, hoặc để lùa các vết thương, vêt lở loét Thái lá đu đủ cho nhỏ rồi trộn với thóc cho ngựa, bò ăn để chữa bệnh biếng ăn của bò ngựa. Rễ đu đủ sắc uống làm thuốc cầm máu trong bệnh băng huyết, bệnh sỏi thận. Có người dùng rễ đu đủ chế giả nhân sâm vì rễ đu đủ giống hình người, uống cũng thấy đói, ăn ngon cơm.

5. Hoa đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường hoặc đường phèn dùng chữa bệnh ho, viêm ống phổi, mất tiếng. Đơn thuốc có đu đủ Rễ đu đủ chữa cá đuối cắn Rễ đu đủ tươi 30g Muối ăn 4g Hai thứ giã nhỏ. vắt lấy nước uống, bã đắp lên chỗ sưng đau. Sau chừng nửa giờ thấy giảm đau và vài ngày sau khỏi hẳn (kinh nghiệm nhân dân miền Nam).

Chú ý: Nhựa đu đủ là một nguồn xuất khẩu tốt. Hàng năm hiện nay thế giới sản xuất khoảng 500 tấn nhựa chủ yếu là Uganda, Tangianica, Xrilanca, Ấn Độ và Braxin

Đu Đủ 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC