Vị thuốc vần H

Húng Chanh

02:06 19/05/2017

Húng Chanh có tên đồng nghĩa: Coleus aromaticus Benth. in Wall., Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng.

Tên khác: Rau tần lá dày, rau thơm lông, dương tử tô.

Tên nước ngoài: Country borage, indian borage (Anh); coliole aromatique (Pháp).

Họ: Bạc hà (Lamiaceae).

Mô Tả

Cây thảo, sống lâu năm, cao 20 - 50 cm. Thân mọc đứng hay ngả, phần sát gốc hóa gỗ. Lá mọc đối, dày, mọng nước, hình trứng rộng, gốc hình nêm, đầu hơi nhọn hoặc tù, dài 3 - 6 cm, rộng 2-5 cm, mép khía răng tròn.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành bông dày, các vòng mang hoa rất sít nhau; hoa nhỏ màu tím hồng; đài hình chuông ngắn, có lông, chia 5 răng, răng trên hình trứng rộng, răng dưới và răng bên gần bằng nhau; tràng cong, có ống hình phễu, mặt ngoài có lông, mặt trong nhẵn, môi dưới dài bằng ống tràng, môi trên ngắn, 3 thùy, thùy trên rộng, hai thùy bên hình mũi mác; nhị 4, thò ra ngoài tràng.

Quả bế tư, nhỏ, hình cầu, màu nâu. Toàn cây có lông rất nhỏ và mùi thơm như chanh. Mùa hoa quả : tháng 3-5.

Húng chanh và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Coleus Lour. có khoảng 200 loài, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Phi và một số đảo ở Thái Bình Dương. Chi này có 3 loài ở Việt Nam.Húng chanh có nguồn gốc ở vùng Đông Ân Độ và đảo Moluques, sau được trồng phổ biến ở Malaysia, Philippin, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và Trung Quốc. Ở Việt Nam, húng chanh là cây trồng từ lâu đời, rải rác trong nhân dân, chưa trở thành một cây trồng sản xuất.

Cây ưa sáng và ưa ẩm, đôi khi chịu hạn. Cây trồng trên đất cát vùng ven biển miền Trung, vào mùa khô, nhiều ngày không tưới nước, cây vẫn sinh trưởng, phát triển được. Cây trổng ở các tỉnh phía bắc có hiện tượng rụng lá vào mùa đông, ít khi thấy có hoa. Húng chanh có khả năng tái sinh vô tính khỏe.

Cách trồng

Húng chanh được nhân giống bằng cành. Vào tháng 2-3, chọn những cây tương đối già, có rễ ở các đốt, cắt thành những đoạn có 2 - 3 đốt để làm giống. Cũng có thể áp cành xuống mặt đất, phủ đất cho cành ra rễ rồi cắt đoạn như trên.

Húng chanh có thể trồng trong vườn, ngoài ruộng hoặc trong chậu. Cần chọn chỗ đất cao, thoát nước, nhiều mùn. Sau khi làm đất, đánh luống cao 20 - 25cm, rộng 70 - 80 cm, rạch thành hàng ngang sâu 10 -15 cm, cách nhau 30 cm. Trộn một ít phân chuồng mục vào rãnh rồi đặt hom giống, hom nọ cách hom kia 20 - 25 cm. Hom được đặt nghiêng và vùi kín khoảng 2/3, sau đó tưới nước. Có thể dùng rơm rạ phủ lên mặt luống để giữ ẩm, sau 5-7 ngày cây mọc thì dỡ bỏ. Khi cây bắt đầu mọc và sau mỗi lần thu hái, dùng nước phân chuồng, nước giải hoặc phân dạm pha loãng (1 - 2%) để tưới thúc. Mỗi lần thúc phân, cần kết hợp làm cỏ, xới xáo. Sau 2-3 tháng, có thể thu hái lá.

Thường chỉ thu hái lá bánh tẻ, lá phía ngọn được giữ lại cho cây tiếp tục sinh trưởng. Về mùa mưa, cây hay bị thối gốc, vàng lá. Cần chú ý thoát nưóc nhanh sau mưa, tỉa bớt thân lá cho cây thoáng đãng và bón thêm lân, kali hoặc tro bếp.

Bộ phận dùng

Lá dùng tươi.

Thành phẩn hóa học

Lá húng chanh chứa tinh dầu trong đó thành phần chính là carvacrol : 40,40% theo Malik M.Shaíiq và cs, 60,1% (Bos R. và cs, 1983) và 64% (Pino J. và cs, 1990  CA. 103, 3760d; CA. 99, 181332x; CA. 115, 13443411). Tuy nhiên, cũng có tác giả chứng minh thành phần chính trong tinh dầu là Thymol 41,30% (Baslas R.K vàcs, 1981; CA. 94, 145161).

Lá cây húng chanh mọc ở Pnom Penh (Campuchia) chứa 0,03% tinh dầu, trong đó có carvacrol 61,45%, y - terpinen 9,91%, a - terpinen 8,03% (Nang Sothv và cs, 1989). I || Lá húng chanh mọc ở Hà Nội chứa 0,002 - 0,003% tinh dầu trong đó có carvacrol 39,5%, Ỵ- terpinen 19,0%, a - terpinen 16,8% (N.X.Dũng và cs, 1990).

Tác dụng dược lý

Tinh dầu húng chanh được thử nghiệm với phương pháp khuếch tán trên môi trường đặc và phương pháp pha loãng tinh dầu để xác định nồng độ ức chế thấp nhất.

Tinh dầu húng chanh có tác dụng ức chế mạnh các vi khuẩn với nồng độ ức chế thấp nhất tương ứng như sau : trực khuẩn mycoides (1: 1.000), trực khuẩn s ubtilis (1:1.000), trực khuẩn lao (giảm dộc) (1:1.000), trực khuẩn lỵ Plexner (1:1.000), tụ cầu khuẩn vàng (1:1.000), trực khuẩn lỵ Shiga (1:500), liên cầu khuẩn tan máu (1:500),trực khuẩn thương hàn (1: 500), phế cầu khuẩn (1:500), và nấm Candida albicans (1:500).

Tinh dầu húng chanh có tác dụng diệt amip Entamoeba moshkowskii nuôi cấy trong môi trường lỏng với nồng độ ức chế thấp nhất là 1:1280. Tinh dầu húng chanh còn có tác dụng ức chế trực khuẩn coli, liên cầu khuẩn, trực khuẩn bạch hầu và trực khuẩn ho gà. Cao nước húng chanh (thử với phương pháp khuếch tán (trên môi trường đặc) có tác dụng ức chế sự phát triển của phế cầu khuẩn và tụ cầu khuẩn vàng.

Như vậy, tác dụng kháng khuẩn của húng chanh không chỉ do tinh dầu, mà còn có thể do những thành phần khác chứa trong cao nước như ílavon, aciđ nhân thơm, tanin, vì lượng tinh dầu trong cao nước húng chanh rất ít. Húng chanh có tác dụng ức chế hoạt tính gây co thắt cơ trơn ruột cô lập của histamin và acetycholin.

Tinh dầu húng chanh được thử nghiệm vói phương pháp khuếch tán trên môi trường đặc có tác dụng ức chế sự phát triển của các chủng phẩy khuẩn tả Inaba và Ogawa và không tác dụng trên phẩy khuẩn tả Eltor.

Tính vị, công năng

Lá húng chanh có vị the cay, hơi chua, mùi thơm, tính ấm, vào hai kinh can, phế, có tác dụng lợi phế, trừ đờm, giải cảm, phát hãn, thoái nhiệt, tiêu độc.

Công dụng

Lá húng chanh được dùng chữa cảm cúm, ho, hen, viêm họng, ho ra máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi được, nôn ra máu, chảy máu cam. Thường dùng lá tươi với liều 10 - 16g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, xông hoặc giã nát vắt lấy nước uống. Trong thuốc xông, lá húng chanh thường được dùng phối hợp với nhiều loại lá khác có tinh dầu như sả, hương nhu, hoắc hương v.v... Cũng có thể dùng lá phơi âm can với liều 4 - 8g mỗi ngày.

Dùng ngoài, lá tươi húng chanh giã nát, đắp lên vết thương chữa rết và bọ cạp cắn. Ỏ Ấn Độ, lá húng chanh được dùng chữa các bệnh về tiết niệu. Nước ép lá trộn với đường là một thuốc gây trung tiện mạnh. Húng chanh được dùng trong chứng khó tiêu, tuy có ý kiến cho rằng thuốc có độc.

Nước sắc lá được dùng chữa ho và hen mạn tính.

Bài thuốc có húng chanh

1. Chữa ho, viêm họng, khản tiếng:

a. Lá húng chanh tươi nhai ngậm với muối, nuốt nước dần dần. Hoặc lấy 20g lá tươi giã nhỏ, thêm nước gạn uống làm 2 lần trong ngày. Đối với trẻ nhỏ, lấy lá tươi rửa sạch, giã nhỏ vói ít đường, đem hấp cơm và cho uống làm 2 - 3 lần trong ngày.

b. Húng chanh 20g, xạ can 20g. Nấu thành cao lỏng có đường, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần một thìa cà phê. Hoặc làm thành phiên, mỗi ngày ngậm một phiến, tương dương với 3g dược liệu.

2. Chữa ho gà:

Húng chanh l0g, mạch môn 12g, vỏ rễ dâu 12g, bách bộ l0g, rau sam l0g.sắc uống ngày một thang, uống liên tục 15-30 thang. Hoặc chế thành sữa, ngày uống 3 lần, mỗi lần một thìa canh. Trẻ em giảm 1/2 liều.

3. Chữa cảm mạo do lạnh:

Húng chanh l0g, bách bộ 12g, tía tô 12g, xạ can l0g, gừng 8g, trần bì 8g, bạch chỉ 6g. sắc uống ngày một thang trong 5 ngày liền.

4. Chữa cảm cúm, cảm sốt, nóng rét, nhức dầu ngạt mũi, ho dòm:

a. Lá húng chanh tươi 15 - 20g, giã lấy nước cốt uống.

b. Lá húng chanh tươi 15 - 20g, gừng 12g, hành 12g. Cùng lúc sắc uống và xông cho ra mồ hôi.

Húng Chanh 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC