Vị thuốc vần L

Lạc

10:50 20/05/2017

Lạc có tên khác: Đậu phụng.

Tên nước ngoài: Earthnut, ground nut, peanuts, monkey nut (Anh); arachide, pistache de terre, pois de terre (Pháp).

Họ: Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống hàng năm, cao 20 - 40cm. Thân phân nhánh từ gốc, cành tỏa rộng, có ít lông, bén rễ ở các mấu. Lá kép hình lông chim, mọc so le, có 4 lá chét mọc đối, hình trái xoan ngược, dài 1,8 - 3cm, rộng 1,5 - 2cm gốc tù, đầu tròn hay hơi lõm, hai mặt nhẵn; lá kèm 2 tạo thành bẹ bao quanh thân; cuống chung dài 3 - 5cm. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm, có 2 - 4 hoa nhỏ, màu vàng; lá bắc nhỏ; đài chia 2 môi, môi trên có 4 răng ngắn, môi dưới chỉ có 1 răng; tràng gồm cánh cờ lõm, cánh bên không bằng nhau, cánh thìa hẹp, cong: nhị 9 dính nhau thành một bó; bầu ngắn có 1-3 noãn. Quả hình trụ thuôn, hơi thắt lại giũa các hạt, vò ngoài cứng có vân mạng; hạt 1-3, hình trứng, màu nâu đỏ hoặc hồng vàng. Mùa hoa: tháng 6-8; mùa quả: tháng 9-11.

Lạc và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Lạc có nguồn gốc nguyên thủy ở vùng Nam Bolivia và Tây - Bắc Argentina (Nam Mỹ). Người Bồ Đào Nha sớm phát hiện ra giá trị của lạc nên đã đưa chúng từ Brazil vào Tây Phi; đến thế kỷ 16, cây bắt đầu được trổng ở vùng Tây Nam Ấn Độ. Cũng thời gian này, ngưòi Tây Ban Nha đưa lạc từ Mexico đến các đảo ỏ tây Thái Bình Dương, và sau đó vào Trung Quốc, Indonesia và Madagasca. Đến giữa thế kỷ 17, người Đức cũng góp phẩn đưa lạc từ Brazil vào một số đảo khác ở Indonesia... (R. Shorter và A. Patanothai, 1992). Ngày nay, lạc đã trở thành cây trồng phổ biến ỏ các vùng nhiệt đới cũng như cận nhiệt đới, từ 40° vĩ tuyến Bắc đến 40° vĩ tuyến Nam. Những khu vực trổng nhiều lạc nhất trên thế giới thuộc về châu Phi, Nam Mỹ và châu Á. Ở châu Á, lạc được trồng rộng rãi ở Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Philippin, Malaysia và Campuchia... Tuy nhiên, vùng nhiệt đới châu Phi hiện được coi là trung tâm đa dạng nhất về các giống lạc của thế giới. Ớ Việt Nam, lạc cũng là loại cây rất quen thuộc và có giá tri kinh tế cao. Cây được trồng rộng rãi ở các tỉnh, từ đổng bằng đến miền núi (trừ vùng núi có độ cao trên 1500 m). Là một loài cây trổng có lịch sử lâu dài, ngay ở Việt Nam cũng có nhiều giống lạc phù hợp vói các vùng sinh thái và cho năng suất hạt cũng khác nhau. Tuy nhiên, chúng cùng có chung các đặc điểm sinh thái là loại cây ngắn ngày, ưa sáng, ưa ẩm và không chịu được ngập úng. Nhiệt độ thích hợp cho lạc sinh trưởng phát triển tốt tùy thuộc từng giống lạc khác nhau, song nhìn chung từ 22° đến 30°c. Ngoài ra, độ ngày dài và ngấn ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đói có liên quan đến quang chu kỳ, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và ra hoa kết quả của cây.

Lạc có thể sống được trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất pha cát, còn tương đối màu mỡ, pH 5,5 - 6,5. Ở Tây Ban Nha và một số nước khác, có những giống lạc chịu được đất chua (pH 4,5) hoặc đất rất kiềm (pH 8,8) (R. Shorter và A. Patanothai, 1992). Lạc ra hoa nhiều, nhưng tỷ lệ đậu quả chỉ từ 25 đến 30%. Cây trổng sau 85 - 130 ngày (tùy giống) cho thu hoạch. Ngày nay, lạc là loài cây thực phẩm quan trọng. Theo số liệu của FAO (Tổ chức Nông - Lương thế giới) trong giai đoạn từ 1981 - 1985, tổng diện tích trổng lạc trên toàn thế giới mỗi năm khoảng 20 triệu ha và cho sản lượng trung bình 19 triệu tấn hạt (lạc nhân)/năm. Trong đó, ở khu vực Đông Nam Á, Indonesia trồng 500.000 ha với 792.000 tấn/năm; Mianma: 585.000 ha, 600.000 tấn/năm; Thái Lan: 127.0    ha, 149.000 tấn/năm; Việt Nam: 136.000 ha, 92.0    tấn/năm; Philippin: 55.000 ha, 48.000 tấn/năm... Tuy nhiên, hiện nay chỉ có Việt Nam và Thái Lan là hai nước thường xuyên có lạc nhân xuất khẩu ra thị trường thế giới. Bộ phận dùng Hạt và dầu béo.

Tính vị, công năng

Lạc có vị ngọt, bùi, béo, có tác dụng bổ tỳ, dưỡng vị, nhuận phế, lợi tràng. Cõng dụng Lạc chứa nhiều chất dinh dưỡng, lạc nhân (20g) giã giập, sắc uống nhấp ít một chữa ho long đờm. Để chữa đại tiện táo bón, uống một chén dầu lạc sẽ nhuận tràng dễ đi ngoài. Dầu lạc có thể thay dầu ô liu để bào chế các dạng thuốc uống như các dung dịch vitamin A và D, và pha chế thuốc tiêm. Ở nhiều nước phương đông, dầu lạc dược dùng làm thuốc nhuận tràng và làm dịu da. Trong y học cổ truyổn Trung Quốc, vỏ hạt lạc trị chảy máu và viêm phế quản. Ở Madagascar, hạt lạc dưới dạng thuốc sắc là thuốc kích dục, gây ngủ nhẹ và điều kinh.

Bài thuốc có lạc

1. Chữa người mới ốm khỏi sút căn và phụ nữ ít sữa: Lạc rang vói ít muối giã nhỏ, nấu với củ mài và gạo nếp thành cháo, ăn liền vài tuần vào mỗi buổi sáng.

2. Chữa phụ nữ bị hư lao ho lâu: Dây lạc phơi khô sắc với bột lộc giác sương (bã gạc hươu), uống mỗi lần 4g vào buổi sáng.

Lạc 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC