Vị thuốc vần L

Lúa

10:35 20/05/2017

Oryza sativa L.

Tên nước ngoài: Rice (Anh), riz (Pháp).

Họ: Lúa (Poaceae).

Mô tả

Cây cỏ, cao 0,6 - l,5m, sống hàng năm ở đất (lúa nương - riz de montagne) hoặc ở nước (lúa nước - riz fluvial, riz aquatique). Thân mọc thẳng đứng, chia đốt, nhẵn và bóng. Lá mọc thành hai dãy, hình dải, dài 30 - 60cm, gốc ốp sát thân, đầu thuôn nhọn, hai mặt và mép lá đều nháp; bẹ lá nhẵn có tai, lưỡi bẹ dài hình mũi mác chẻ đôi.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùy bông dài 15 - 30cm, hơi uốn cong; cuống cụm hoa to, có rãnh và nháp, bông nhỏ hình bầu dục thuôn, mày hình mác nhọn, nguyên hay khía răng ở đỉnh, màu hồng, vàng hay hơi tím, có lông cứng dạng mi; nhị 6, mảnh, bao phấn hình dải; bầu có vòi nhụy ngắn, đầu nhuỵ có lông thò ra ngoài bông nhỏ.

Quả thóc, thuôn hẹp, bao bọc bởi mày hoa, chứa nhiều bột màu trắng.

Có hai thứ lúa chính là:

- Lúa tẻ (Oryza sativa L. var. utilissima A. Camus) tên nước ngoài là riz dur (Pháp).

- Lúa nếp (Oryza sativa L. var. glutinosa Tanaka) tên nưóc ngoài là riz gluant (Pháp).

Lúa  và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Oryza L. thuộc phân họ Tre trúc (Bambusoideae), song gần đây có tác giả tách thành phân họ Lúa riêng (Oryzoideae) trong họ lúa (Poaceae). về thành phần loài của chi Oryza L. có nhiều quan điểm khác nhau, có người cho rằng chúng gồm 22 loài, người khác lại gộp 2 loài o. meyeriana và o.granulata thành 1 loài o. meyeriana và 2 loài o. officinalis và o. minuta thành 1 loài o. minuta, nên cả chi chỉ còn 18 loài (B. s. Vegara & S.K. De Datt, 1996). Mặc dù vậy ở Việt Nam chi Oryza L. vẫn có 5 loài (Nguyễn Tiến Bân, 1997), trong đó có cây lúa và 4 loài là cây mọc hoang dại.

Về nguồn gốc của loài lúa đang được trồng hiện nay cũng có vài giả thiết, như nó được bắt nguồn từ loài lúa hoang dại O.rufipogort, hiện còn tồn tại ở Indonesia và Malaysia; giả thiết khác lại cho rằng lúa là kết quả của sự lai tự nhiên giữa 2 loài O.rufipogon và ọ.nivara... Song tất cả mọi giả thuyết đều thừa nhận loài lúa trồng vốn có nguồn gốc từ hoang dại và được trồng từ thời cổ đại. Người Ân Độ cho rằng, các bộ tộc ở vùng Himalaya đã trồng lúa cách đây khoảng 9000 năm. Lúa trồng ở Malaysia, Indonesia và Philppin cũng được xác định cách đây khoảng 1500 năm. Còn ở Việt Nam, lịch sử gieo trồng lúa đã được các học giả gắn với lịch sử 4000 năm của dân tộc (Bùi Huy Đáp, 1999; Tập san Tài nguyên thực vật Đông Nam Á - Việt Nam, 2000, 1: 6). Trải qua quá trình trình trồng trọt, chọn tạo giống lâu dài, các giống lúa đang được trồng hiện nay (bao gồm cả lúa nếp và lúa tẻ) đã trở nên vô cùng phong phú và đa dạng. Ở Viện lúa quốc tế (IRRI) tại Philippin, hiện đang lưu giữ khoảng 83.000 dòng lúa đặc trưng cho 80 nhóm giống lúa chủ yếu của toàn thế giới. Bộ sưu tập giống lúa của Indonesia hiện có 1.300 dòng; Malaysia là 5.500 và đặc biệt Thái Lan đã có đến 16.000 dòng. Còn trong kho lưu giữ của các cơ sở nghiên cứu về lúa ở Việt Nam, chắc chắn cũng đang có một bộ sưu tập không nhỏ. Bên cạnh các giống lúa mới đang được trồng phổ biến ở khắp các địa phương, ở các vùng núi xa xôi, đồng bào các dân tộc vẫn còn trồng những giống lúa rất cổ, như ở Tây Nguyên, có giống lúa cây thấp, hạt to, gạo tuy không ngon nhưng chịu được hạn rất tốt. Ở vùng Đổng Tháp Mười, hiện có loại lúa hoang rất cổ, gọi là "lúa trời". Nước ngập đến đâu cây vươn theo đến đó, có khi dài 3 - 4m.

Hiện nay, lúa là loại cây lương thực được trồng rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ châu Á, châu Phi, châu Mỹ đến cả châu Đại Dương. Người ta đã xác định lúa là nhóm cây có biên độ sinh thái rộng. Cây được trồng ở vành đai từ 53° vĩ tuyến Bắc (vùng Mohor Bắc Trung Quốc) đến 35° vĩ tuyến Nam (vùng New South Wales - Australia). Lúa được trồng chủ yếu ở các vùng đồng bằng và trung du, song cũng có nhiều giống lúa được trồng ở vùng cao 1500m (ở Sa Pa - Lào Cai) hay 2300 m ở vùng Himalaya thuộc Ân Độ. Ánh sáng là nhân tố sinh thái quan trọng nhất đối với cây lúa. Ngoài ra, với đặc điểm là lá rất nhiều, hình dải và mọc đứng, cây lúa có hiệu quả quang hợp tối ưu. Sau ánh sáng, nhiệt độ cũng là nhân tố sinh thái quan trọng đối với cây lúa. Nhiệt độ thích hợp cho mọi giống lúa sinh trưởng phát triển mạnh là 21 - 38°c. Ở thời kỳ ra hoa kết quả, cây đặc biệt nhạy cảm với điều kiện nhiệt độ thấp. Hơn nữa, nước cũng là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống của cây lúa. Đối với những giống lúa trổng cạn ở vùng núi, mặc dù cây có khả năng chịu hạn cao, song vào thời kỳ cây mạ và sinh trưởng mạnh vẫn cần phải có mưa. Lúa thuộc nhóm cây trồng ngắn ngày nên có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh. Hạt lúa ngâm trong nước hay ở trong môi trường dư thừa độ ẩm sẽ nảy mầm sau 24 đến 48 giờ. Sau khi nảy mầm, cây mầm vẫn sống bằng dinh dưỡng của hạt khoảng gần 10 ngày, sau đó sẽ bắt đầu quá trình dinh dưỡng độc lập. Đối với tất cả các giống lúa đang được trồng ở vùng thấp hiện nay, có giai đoạn sinh trưởng kéo dài 40 - 45 ngày kể từ khi cấy. Thời kỳ ra hoa kết quả từ 5 đến 7 ngày và để quả (hạt thóc) chín cần thêm 30 - 40 ngày tùy theo giống lúa. Hoa lúa ở đầu bông nở trước các hoa ở phía dưới. Hoa tự thụ phấn hoặc nhờ gió và côn trùng; thời gian thụ phấn thường từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều hàng ngày. Nếu trong thời kỳ ra hoa kết quả, trời nhiều mây hoặc mưa sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất của lúa. Năng suất lúa nước bao giờ cũng cao hơn lúa trồng cạn ở vùng đồi núi.

Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông - Lương thế giới (FAO), hiện nay lúa là loại cây lương thực quan trọng. Tổng điện tích trồng lúa trên thế giới vào năm 1994 là 146 triệu hécta với tổng sản lượng đạt 530 triệu tấn (chiếm 40% trong số tất cả các loại lương thực khác). Trong đó, các nước ở châu Á là nơi sản xuất nhiều lúa gạo nhất, chiếm đến 90% về diện tích và sản lượng lúa của toàn cầu (B. s. Vegara & S.K. De Datt, 1996).

Là một nước nhiệt đới nóng và ẩm, Việt Nam có tiềm năng to lớn trong việc sản xuất lúa gạo. Từ hai vùng châu thổ chính là đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, mỗi năm Việt Nam tạo ra hơn 30 triệu tấn lương thực mỗi năm, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước và đã trở thành nước có khối lượng lúa gạo xuất khẩu đứng vào hàng thứ hai của thế giới (sau Thái Lan). Năm 1999, Việt Nam xuất khẩu 4,4 triệu tấn. Tuy nhiên năng suất đó hiện còn thấp hơn Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc...

Bộ phận dùng

Hạt thóc, và hạt gạo.

Thành phần hóa học

Thành phần hóa học của lúa tùy thuộc vào giống cùng các điều kiện trồng trọt và mồi trưòng. Sau đây là một vài số liệu phân tích của 17 loại gạo theo từng vùng:

Nước 10,91 - 13,78%, cao ether 0,59 - 2,59%, protein 5,5 - 9,32%, carbonhydrat 73,35 - 80,84%, sợi 0,18- 0,95% và chất vô cơ 0,79 - 2,00%.

Gạo mới, chứa bột 72 - 79%, glucose 1,45 - 2,65%, sucrose 0,30 - 0,48%, dextrin 1,56 - 2,05%, một lượng nhỏ fructose, galactose, rafinose.

Gạo cũ có maltose, isomaltose, maltotriose, maltotetrose, được hình thành do amylose thủy phân trong quá trình bảo quản.

Hemicellulose có trong gạo gồm arabinose, và xylose (khoảng 1: 1), một lượng nhỏ galactose, manose và acid uronic. Glutein của gạo gọi là oryzenin là protein chủ yếu của gạo, bên cạnh đó còn có một lượng nhỏ albumin, (X và p globulin, prolamin (gliadín).

Sự phân bố Nitrogen trong oryzenin như sau: amid N 10.70 - 11.33%, humin N 0,86 - 1,59%, cystin N 0,88 - 1,56%, arginin N 16,36 - 21,80%, histidin N 3,68 - 6,42%, Iysin N 1,26 - 7,35% của N toàn bộ.

Các acid amin chủ yếu là arginin 7.92 - 12,64, histidin 1,2 - 2; ỉysin 3,2 - 4,4; tryptophan 1,15- 1,50; pbenylalanin 4,3 - 5; methionin 2,1 - 2,6; threonin 3,25 - 3,62; leucin 7,38 - 9,41; isoleucin 5,46- 6,74 và valin 5,60 - 7,80g/16gN.

- Các polypeptid và các acid amin tự do lượng amino N 0,75 - 1,02% của N tổng số, trong đó acid amid N: 0,14 - 0,23% và polypeptid N - 1,15% các acid atnũi tự đo là alanin, tyrosin, prolin, acid glutamic aspartic và cystein.

Gạo, đặc biệt cám gạo là nguồn nguyên liệu có nhiều vitamin nhất là các vitamin B, đặc biệt là thiamin, acid pantothenic, pyridoxin, riboflavin với hàm lượng thấp.

Các men: a amylase, p amylase, amylosynthease, catalase, protease, lypase, phenolase, oxydase, peroxidase.

- Các chất màu là hỗn hợp monoglucosid của cyanidin và delphinidin. Cũng có loại có diglucosid của cyanidin.

- Các carotenoid, các hợp chất pectic (1,13%) các polyphenol và 2 alcaloid stachydrin và trigonellin.

- Các acid hữu cơ là acid citric, acetic, fumaric, succinic, oxalic, malic và nhóm acid nhân thơm như ferulic, vanillic, p. coumaric, một chất độc lysolecithin (C24H50NO7 điểm chảy 262 - 64°) khi thủy phân cho acid malmitic, glycerophosphoric và cholin. (The wealth of India 1966. vol VII, 164).

Các chất diterpeti lacton momilacton A và momilacton B.

Trong cám gạo còn có các polysaccharid đã phân lập được 1 polysaccharid là RBS có tác dựng sinh học. Lá lúa có chứa flavonoid glucotrisin (đ.c 160°) (CA. 1965, 63, 6018 g).

Trong rễ lúa có các glycan như các oryzaran A, B, c và D.

Tác dụng dược lý

Cao nước cám gạo có tác dụng bảo vệ chống viêm nhiều dây thần kinh thực nghiệm ở gà con, và có tác dụng diệt bọ gậy. Đã chiết ra 3 hoạt chất từ cám gạo có tác dụng trị bệnh da. Dầu cám gạo có tác dụng dự phòng ung thư ở gan chuột cống trắng. Cám tinh thu được sau khi làm bóng hạt gạo có tác dụng làm tăng tái tạo hemoglobin ở chuột cống trắng gây thiêu máu thực nghiệm bằng tiêm phúc mạc phenylhydrazin hydroclorid. Thử nghiệm trên chuột hamster cho thấy cám gạo ổn định hóạ có tác dụng gây hạ cholesterol máu giống như cám yến mạch. Thử nghiệm lâm sàng trên người chứng minh tác dụng hạ cholesterol máu của cám gạo toàn phần béo ổn định hóa và của cám gạo nấu chín ổn định hóa. Hoạt chất có ở trong dầu cám gạo. Một polysacharid chống ung thư được chiết xuất với nước nóng từ cám gạo (RBS). RBS tinh chế có hoạt tính chống ung thư mạnh khi tiêm phức mạc hoặc cho động vật uống.

Hoạt tính chống ung thư của RBS tinh chế có thể là một kiểu tác dụng trung gian bởi vật chủ, gây kích thích hoạt tính miễn dịch của động vật chủ, vì chất này không có tác dụng diệt tế bào đối với một dòng tế bào động vật in vitro. RBS thô cho uống không gây độc tính cấp trên chuột cống trắng. Cao nước từ rễ cây lúa gây giảm đường máu ở chuột nhắt trắng bình thường. Từ phân đoạn cao này, đã phân lập được 4 glycan là các oryzaran A, B, c và Đ, có tác dụng gây giảm đường máu ở chuột nhắt trắng bình thường và chuột gây đái tháo đường bằng alloxan.

Tính vị, công năng

Lúa tẻ (canh mễ) có vị ngọt, tính mát bình, bổ khí huyết. Lúa tẻ lâu năm (trần mễ) có vị chua, hơi mặn, tính ấm, ích khí, mạnh tỳ, thông huyết mạch, giúp tiêu hóa. Lúa nếp (nhu mễ) có vị ngọt thơm dẻo, tính ấm, bổ tỳ vị hư yếu. Kẹo mạ hay di đường có vị ngọt tính ấm, có tác dụng bổ, mạnh tỳ vị, nhuận phế, tiêu đờm. Cám gạo có vị ngọt tính bình, có tác dụng khái vị, hạ khí đầy.

Công dụng

Gạo tẻ ăn thường ngày cung cấp nguồn dinh dưỡng cho sự sống, và được dùng làm thuốc giải phiền nhiệt trong trường hợp sốt cao, ra nhiều mồ hôi, háo khát. Gạo tẻ sao, sắc uống thay nước trong trường hợp nôn mửa hoặc tiêu chảy háo khát do mất nước, hoặc trẻ bị rối loạn tiêu hóa, cần nhịn ăn, bú tạm thời. Gạo nếp được dùng trị đau bụng, nôn mửa và tiểu tiện ra dưỡng trấp. Kẹo mạ chứa các chất men có tác dụng giúp tiêu hóa thức ăn có tinh bột, làm ăn ngon, trị sôi bụng. Cám gạo được dùng chữa bệnh tê phù và chứng nghẹn. Rơm lúa nếp 100 - 150g sắc uống chữa đái ra dưỡng trấp. Rạ lúa nếp đốt ra tro tán nhỏ rắc chữa mụn lở mọng nước hay tay lở chảy nước; dùng nấu nước ngâm rửa chữa trĩ.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, cám gạo được dùng trị bệnh tê phù, tinh bột gạo nếp dùng trị tiêu chảy. Dầu béo từ cám gạo được dùng làm tá dược bào chế thuốc mỡ. Ở Ân Độ, mầm gạo đã loại chất béo có trong thành phần chế phẩm ăn kiêng cho phụ nữ cai sữa và người dưỡng bệnh. Ở Indonesia, bột gạo được dùng làm tá dược cho bột phấn mà phụ nữ dùng xoa trên mình sau khi sinh đẻ, và bột phấn dùng xoa lên trán trị nhức đầu. Ở Italia, nhân dân uống nước sắc gạo rang trị viêm đường tiêu hóa.

Bài thuốc có gạo

1. Chữa sốt cao, ra nhiều mồ hôi:

Gạo tẻ 1 nắm, lá tre hay cỏ lá tre 1 nắm, thạch cao 12 - 20g. Sắc gạo tẻ, lá tre hoặc cỏ lá tre lấy nước uống cùng với thạch cao.

2. Chữa nôn mửa không ngừng:

Gạo nếp 20g (sao vàng), gừng 3 lát; sắc uống.

3. Chữa bệnh tê phù:

 a. Cám gạo, gạo nếp, đậu đỏ, đường, nấu chè ăn.

b. Cám gạo, ý dĩ, nấu cháo ăn hàng ngày. Và sắc lõi cây ngô hay rễ ý dĩ uống thay chè.

4. Chữa tích trệ tiêu hóa:

a. Kẹo mạ 8g, ý dĩ 12g, sơn tra 8g; thần khúc, kê nội kim, trần bì, hạt củ cải, mỗi vị 4g. sắc uống hay tán bột làm viên, ngày uống 12 - 16g.

b. Kẹo mạ 40g, hương phụ 80g, thần khúc 40g; chích cam thảo, sa nhân, mỗi vị 20g; trần bì 8g. Tán bột, ngày uống 4 - 6g, chia hai lần.

5. Chữa tích trệ tiêu hóa do giun đũa hoặc giun kim:

Kẹo mạ lOg; hoàng liên, bạch truật, mỗi vị 20g; đảng sâm, sử quân tử, thần khúc, mỗi vị 16g; sơn tra, phục linh, mỗi vị 12g; lô hội, chích cam thảo, mỗi vị 6g. Tán nhỏ làm viên, ngày uống 8 - 12g

. 6. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng:

Gạo nếp, mài mực, cam thảo, hàn the phi, mẫu lệ nung, hoàng bá, kê nội kim, lượng bằng nhau. Tán bột, ngày uống 20 - 30g.

7. Chữa thiếu máu:

Kẹo mạ, đảng sâm, rau má, ngải cứu, củ mài, cỏ nhọ nồi, huyết dụ, hoàng tinh, mỗi vị 20g; gừng 4g. Sắc uống ngày một thang, hoặc làm viên, ngày uống 20g.

8. Chữa liệt dương:

Cám nếp, hoài sơn, đinh lăng, ý dĩ, hoàng tinh, hà thủ ô, kỷ tử, long nhãn, mỗi vị 12g; trâu cổ, cao ban long, mỗi vị 8g; sa nhân 6g. sắc uống ngày một thang.

 

Lúa 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC