Vị thuốc vần L

Lươn

05:30 19/05/2017

Monopterus albus Zuiew

Tên đồng nghĩa: Fluta alba 

Tên khác:  Cá lươn, hoàng thiện.

Tên nước ngoài:  Eel, silver-pike (Anh); anguille (Pháp).

Họ: Lươn (Symbranchidae hoặc Flutidae)

Mô tả

Loài cá xương, thân hình ống, dài 30-40cm, không có vảy. Đầu tròn, to, mõm ngắn, miệng và mắt nhỏ, không có vây ngực và vây bụng, vây lưng và vây hậu môn tiêu giảm. Đuôi dẹt bên. Da dày, trơn bóng, màu vàng nhạt hoặc nâu sẫm.

Phân bố, sinh thái

Lươn phân bố ở nhiều nước châu Á. Ở Việt Nam, lươn có ở đồng bằng và miền núi, sống chui rúc trong bùn ở các ao, hồ, ruộng nước, mương máng. Thức ăn của lươn là giun, ốc, cua, tôm, tép, cá con, ấu trùng. Mùa sinh đẻ vào tháng 3 - 4. Đẻ trứng trong nước.

Lươn được thu bắt quanh năm, nhưng chủ yếu vào tháng 3 - 4 và tháng 10 - 11. Người ta đã tổ chức nuôi lươn trong bể nhân tạo đạt kết quả tốt.

Bộ phận dùng

Toàn con lươn được dùng trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian với tên thuốc là hoàng thiện, thiện ngư. Thành phần hoá học Lươn chứa 20 % protid, 1,5 % lipid, 35 mg % Ca, 164 mg % p, 26 mg % Mg, 1 mg % Fe; vitamin B; (0,15 mg %), vitamin (0,31 mg %), vitamin pp (3,8 mg %), vitamin Bỗ (0,28 mg %), vitamin D (30 mcg %). (Viện Dinh dưỡng).

Tính vị, tác dụng

Lươn có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ trung, ích khí, trừ thấp.

Công dụng

- Thịt lươn: Ngon và bổ, thích hợp với thể trạng nhiệt, rất tốt cho trẻ em gầy yếu, xanh xao, phụ nữ sau khi đẻ hư nhược, khí huyết không điều hoà.

Lấy lươn tuốt cho hết nhớt bằng rơm và tro bếp, rửa sạch, mổ bỏ lòng ruột, để cả con, luộc qua, gỡ lấy thịt, nấu cháo ăn hoặc sấy khô, tán bột uống. Ở đồng bằng Nam Bộ, lươn nấu với cá, rau rút và một số rau gia vị thành món lẩu canh chua, một món ăn- vị thuốc bổ dưỡng phổ biến có thêm tác dụng thanh nhiệt, nhuận tràng, an thần, mạnh gân xương và mùi vị thơm ngon hấp dẫn phảng phất tựa nấm hương của rau rút. Thịt lươn nấu với ngó sen, ăn chữa rong kinh, băng huyết; cuốn lá lốt nướng ăn chữa tê thấp; hầm với rau dừa nước lại là thuốc bổ máu; ninh nhừ với màng mề gà. ăn trị cam tích trẻ em.

Người Nhật Bản coi thịt lươi mhư một loại thục phẩm thông huyết mạch, lợi gân cốt, nên gọi là "sâm động vật".

- Tiết lươn : Dùng tiết vừa cắt ở cổ lươn nhỏ vào tai mổi ngày chừng 3-4 giọt chữa đau tai (Nam dược thần hiệu). Tiết lươn bôi nhiều lần trong ngày chữa những vết mẩn do con dời leo (một loại viêm da cấp tính có mụn rất nhỏ nổi lấm tấm như hạt kê).

- Xương lươn : Đem phơi hoặc sấy khô giòn, tán nhỏ đốt lấy khói xông chữa trĩ đau nhức (Nam dược thần hiệu). Xương lươn vàng giã nhỏ với mỡ ở đùi con dê, đắp vào mắt chữa mắt có màng trắng (Lương y Vũ Văn Kính - Thành phố Hồ Chí Minh).

Ở một số nơi, người ta còn rang xương lươn với cát, tán nhỏ, rây bột mịn, uống với nước ấm chữa đau lưng. Ở Nhật Bản, người ta tận dụng xương lươn để chế biến thành đạng bột mịn, có mùi vị dễ chịu, dùng làm thuốc bổ dưỡng theo kinh nghiệm lâu đời và phổ biến của ngư dân vùng biển. Bột này thường được dùng làm chất phụ gia và tăng giá trị dinh dưỡng cho các loại bánh ngọt.

Nhớt ở mình con lươn xát mạnh vào chỗ nhựa cây dính vào quần áo, rồi giặt bằng xà phòng sẽ sạch ngay.

Ghi chú: Theo sách "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh, phàm con lươn nào bò ngóc đầu lên và có khoang trắng ở cổ thì không nên dùng.

Người bị bệnh sốt rét, vàng da, kiết lỵ, đầy bụng khó tiêu, không nên ăn lươn.

Bài thuốc có lươn

A. Dùng ở Việt Nam

1. Chữa mồ hôi ra nhiều ở tay chân:

Lươn (1 con) làm sạch, luộc qua, gỡ lấy thịt; ý dĩ nhân (20 g) để sống, phơi khô hoặc sao vàng, giã nhỏ thành bột; gạo nếp (30 g) vo kỹ, để ráo nước, giã thành bột. Trộn chung 3 thứ, thêm ít muối, nấu với nước luộc lươn cho dừ nhuyễn thành cháo, ăn trong ngày. Dùng 5-7 ngày. (Nhân dân ở An Giang lại dùng thịt lươn vàng (50 g), nấu cháo với dọt khoai môn nước (20 g) ăn trong ngày).

2. Chữa bạch đới, khí hư:

Lươn (1 con to) lấy phần giữa (khoảng 30 cm) dốt ra tro; hồ tiêu (15 hạt ) tán nhỏ, trộn với rượu, uống (Nam dược thần hiệu).

3. Chữa liệt mặt, méo mồm:

Tiết lươn (1 phần), nhựa cây ruối hoặc bột hạt thầu dầu tía (2 phần). Đánh cho nhuyễn, phết lên giấy, dán vào má (bị bên này thì dán bên kia và ngược lại).

4. Chữa chảy máu dạ dày:

Tiết lươn (10 ml) trộn với bột than da trâu (lOg) uống với nước mía làm một lần trong ngày. Ngày dùng 2 lần.

B. Dùng ở Trung Quốc

1. Chữa kiết lỵ:

Đầu lươn rang khô, tán thành bột, trộn với ít đường đỏ, rồi hoà rượu uống.

2. Chữa viêm gan mạn tính:

Lươn vàng (2-3 con) làm thịt, bỏ ruột; tầm gửi cây dâu (60 g); rễ lau (30 g); nước (vừa đủ). Tất cả đem nấu chín, ăn cả cái lẫn nước.

3. Chữa thần kinh, suy nhược:

Thịt lươn (250 g) thái nhỏ, hấp cách thuỷ với hoài sơn, bách hợp (mỗi thứ 30 g) và nước (vừa đủ). Ăn trong ngày. Dùng nhiều ngày.

4. Chữa thiếu máu, gầy còm, mệt mỏi:

Thịt lươn (15 g) thái nhỏ, nấu với nước gừng (10- 20 ml) và ít gạo thành cơm. Ăn trong ngày.

 

 

Lươn 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC