Vị thuốc vần M

Măng Tây

11:00 20/05/2017

Asparagus offtcinalis L.

Tên nước ngoài: Gardep asparagus, spaưovv grass (Anh); asperge (Pháp).

Họ: Thiên môn (Asparagaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm. Thân rễ sinh chồi hình trụ mập, tròn màu trắng ngà, đầu màu lục nhạt, mang nhiều lá dạng vảy, hình tam giác úp vào nhau. Thân khí sinh mảnh, màu lục, hình trụ, mang những vòng cành nhỏ biến đổi thành những lá giả hình kim, lá thật thưa và rụng sớm.

Hoa đơn tính mọc đơn độc hoặc đôi một ở kẽ những cành nhỏ, khác gốc, màu vàng lục nhạt.

Quả mọng, hình cầu, màu đỏ.

Măng tây và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Asparagus L. có 6 loài ở Việt Nam, trong đó 2 - 3 loài là cây nhập trồng làm cảnh, làm rau ăn và làm thuốc.

Măng tây có nguồn gốc ở vùng phía đông Địa Trung Hải, được trồng rộng rãi ở châu Âu, vùng Capcazơ và Tây Xiberi. Cây còn thấy mọc hoang dại ở Hoa Kỳ và Niu Zilân. Hiện nay, măng tây đã trở thành cây trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả một số nước vùng Đông - Nam Á như Thái Lan, Inđônesia, Malaysia và Trung Quốc. Măng tây trồng ở Việt Nam có lẽ do người Pháp mang vào trước đây. Vùng ngoại thành Hà Nội (Đông Anh, Gia Lâm) và một số địa phương lân cận có nhiều kinh nghiệm trồng cây này để xuất khẩu.

Măng Tây có đặc tính của cây ngày ngắn ở vùng ôn đới ấm, Cây sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ trung bình khoảng trên 20°c. Tuy nhiên, do được thuần hoá nhiều năm và qua nhiều thế hệ nên cây đã sống được ở nhũng vùng nhiệt đới nóng và ẩm. Cây trồng ở vùng núi có năng suất cao hơn ở vùng thấp. Măng tây ra hoa quả nhiều hàng năm. Hạt là nguồn gieo giống chủ yếu. Song với khả năng mọc chồi gốc khoẻ, nên sau khi thu hoạch măng (chồi non), phần gốc còn lại cũng được sử dụng làm giống để trồng.

Măng tây được coi là loại cây thực phẩm quan trọng của nhiều nước. Tổng sản lượng măng tây hàng năm trên thế giới vào khoảng nửa triệu tấn. Nơi sản xuất và tiêu thụ nhiều măng tây nhất là ở Bắc Mỹ, sau đến châu Âu và một số nước ở vùng Đông Á.

Cách trồng

Măng tây được trồng để lấy măng. Ngay từ thời Pháp thuộc, người Pháp đã mang giống măng tây vào trồng ở nước ta. Hiện nay, măng tây ngày càng dược trồng nhiều và đã hình thành một số vùng trồng tập trung như Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng...

Tuy có thể nhân giống bằng phương pháp tách mầm nhưng măng tây được trồng chủ yếu bằng hạt. Hạt thu từ quả măng già, đỏ mọng, bóp lấy hạt, phơi khô, bảo quản trong lọ kín. Nhiệt độ thích hợp cho hạt măng tây nảy mầm là 25°c. 

Tốt nhất nên gieo hạt vào đầu mùa thu (cuối tháng 8, đầu tháng 9) trong vườn ươm để có cây con trồng vào tháng 2, sau tiết lập xuân.

Vườn ươm cần chọn nơi cao ráo, thoát nước, làm đất thật tơi nhỏ, bón lót 1 - 5kg phân chuồng ủ mục với 5% supe lân cho mỗi mét vuông. Trước khi gieo, ngâm hạt vào nước 35°c qua một ngày đêm, sau đó ủ ở 25°c đến khi hạt nứt nanh. Chọn những hạt có mầm đem gieo, số còn lại đãi sạch, ủ tiếp để có mầm gieo vào hôm sau. Hạt gieo vôi khoảng cách 15 - 20 X 5cm, ở độ sâu 1 - l,5cm, phủ đất, sau đó dùng trấu hoặc mùn đã ủ mục rắc lên trên rồi tưới ẩm. Mỗi hecta cần 300 - 400m2 vườn ươm với lượng hạt 1 - l,5kg.

Khi cây con lên cao 5 - lOcm, dùng nước phân loãng tưới thúc 10-15 ngày 1 lần. Hạn chế dùng phân hoá học cho cây con trong vườn ươm. Khi cây được 1 tháng và 3 tháng tuổi, làm cỏ, xới xáo và vun gốc, kết hợp bón thúc nước phân.

Trước khi đánh cây đi trrồng 2 ngày, tưới đẫm vườn ươm. Khi đánh cây chú ý không làm đứt rễ, có thể cắt bớt một phần thân lá.

Măng tây là cây ưa sáng. Thiếu ánh sáng, cây sinh trưởng kém, năng suất thấp. Đất trồng măng tây phải có độ phì cao, tơi xốp, độ pH 6 - 7 (cây không chịu được đất chua). Đất phải cày sâu, bừa thật kỹ, lên luống rộng 50 - 60cm, cao 40cm, rãnh rộng 30 - 40cm. Ở giữa các rãnh bổ hốc sâu 20cm với khoảng cách 50cm. Trộn đều phân chuồng, phán hoá học và vôi bột (nếu đất chua) với đất lấp vào hốc và đặt cây con. Mỗi hốc dặt 2 cây. Mỗi hecta cần bón lót 30 - 40 tấn phân chuồng (có thể bón tới 50 tấn), 200 kg urê và 150kg kali sulfat. Trồng xong, cần giữ độ ẩm thường xuyên khoảng 65 - 70%.

Sau khi trồng dược 2 tháng, xả đất ở luống vun dần vào gốc cây (1/2 lượng đất trôn luống). Sau đó 1 tháng, vun nốt số đất còn lại làm thành luống cố định rộng 50 cm, rãnh 30cm. Lần vun này kết hợp bón thúc cho mỗi hecta 60 leg urê, 60 kg kali sulfat và 90kg supe lân. Hàng năm, vào tháng 3 lại tiến hành bón thúc cho cây với lượng phân như trên. Ngoài ra, vào thời kỳ thu hoạch măng nhiều, cứ hai tuần một lần, dùng nước phân pha loãng tưới cho cây, kết hợp xới xáo và vun gốc.

Khi cây măng tây được 1 năm, cần làm giàn chóng đỡ. Dùng cọc tre hoặc xi măng cao 1,5 - 2m cắm ở 2 đầu luống rồi căng dây ni lông hoặc dây nhôm ở độ cao 0,5m và lm cho cây tựa. Có thể bấm ngọn để hạn chế độ cao và tàng cành lá.

Măng tây ít bị sâu bệnh. Thỉnh thoảng có thể bị sâu xanh, bọ trĩ gây hại. Trừ bằng Bi 58 hoặc Trisiophos.

Nếu chăm sóc tốt, năm đầu mỗi cây đã có thể cho thu hoạch 2-3 mầm, năm thứ hai cho 8-10 mầm. Măng cần được thu khi chưa nhô lên khỏi mặt đất, thu vào sáng sớm trước lúc mặt trời mọc để măng khỏi biến màu (lục hoá). Khi thu, bói nhẹ gốc, dùng tay tách lấy măng, rửa sạch, lấy giấy bọc lại và xếp nhẹ nhàng vào sọt. Nếu không dùng ngay, có thể bảo quản ở nhiệt độ thấp.

Mãng có thể cho thu hoạch liên tục trong 8-10 năm, nhưng thường cho năng suất cao từ năm thứ 3 đến năm thứ 5. Sang năm thứ 7 - 8, năng suất giảm dần cần phá đi trồng lại.

Các giống măng tốt (giống lai Fl) có thể đạt năng suất 3 tấn/ha/năm ở các năm thứ 3 đến thứ 5.

Bộ phận dùng

Rễ.

Thành phần hoá học

Măng tây chứa nước 93%, protein 2,2%, chất béo 0,2%, carbohydrat 3,2%, chất xơ 0,7%, tro 0,7%, Ca 0,025%, p 0,039%, Fe 0,96mg%, Cu 0,14mg%, vitamin A 1400 dơn vị quốc tế, vitamin BI 180g%, vitamin B2 130g%, vitamin c 40mg% ( The Wealth of India I, 1948).

Rễ chứa p - sitosterol, sarsasapogenin, asparagosid A, B, c, D, E, F, G, H. Ngoài ra, có coniferin, acid chelidonic, flavonoid, coumarin.

Quả có đường 36%, physalin, capsanthin.

Dịch ép quả có acid 2,2' - dithiolisobutteric. Vỏ thân có {3 sterol, acid béo, caroten, yamogenin.

(Trung dược từ hải I, 1993).

Theo A. Y. Leung và cs, 1996, rễ chứa inulin, 8 fructo - oligosaccharid; 2 glycosid đắng (officinalisnin - I 0,12% và officinalisnin II 0,075%), p - sitosterol, sarsasapogenin, 9 glycosid steroid là các asparagosid từ A đến I (tính theo sự tăng dẫn của độ phân cực) và acid asparagusic...

Chồi mầm chứa các acid có lưu huỳnh bao gồm các acid asparagusic, đihyđroasparagusic và s- acetyl - dihydroasparagusic, a - aminodimethyl - y - butyrothenin (là dẫn chất s - methylmethionin), một glycosid đáng, nhiều flavonoid rutin, hyperosid, isoquercitrìn, cosmosiin, kaempferol - 3 - 0 - rhamno - D - glucosid, kaempferol, quercetin...), asparagin, arginin, tyrosin, sarsasapogenin, p ' sitosterol, acid succinic, đường....

Hạt chứa nhiều polysaccharid gồm p - glucose, và p- manose liên kết 1 —> 4 với a - galactose ở nhóm tận cùng với tỷ lệ glucose - manose 1:1. Hạt còn chứa đầu béo bao gồm acid arachidic 43,47%, acid oleic 22,16%, acid palmitic 11,52%, acid linolcic 11,34%, acid behenic 5,78%, acid stearic 3,59%, acid linolenic 2,14% và chất không xà phòng hoá 1,43% trong đó chủ yếu là Ị3 - sitosterol.

Tác dụng dược lý

Măng tây có tác dụng lợi tiểu. Dạng chiết từ măng tây hoặc asparagin trên súc vật thí nghiệm tiêm tĩnh mạch có tác dụng hạ huyết áp, giãn mạch máu và lợi tiểu, ngoài ra, còn có khả năng cải thiện công năng gan. Dạng chiết bằng ethanol thí nghiệm trên chuột cống trắng có tác dụng đối kháng với co giật do kích thích điện gây nên. Asparagin còn có tác dụng chống loét, dùng thuốc qua đường đạ dày có tác dụng phòng ngừa những tổn thương của niêm mạc dạ dày do aspirin gây nên trên động vật thắt môn vị.

Măng tây có hàm lượng khá cao coumarin, chất này thí nghiệm trên chuột cống trắng, dùng thuốc qua đường tiêu hoá với liều 250mg/kg có tác dụng hạ đường huyết. Theo tài liệu nước ngoài, măng tây còn có tác dụng nhuận tràng nhẹ, cường dương, an thần.

Tính vị, công năng

Măng tây có vị ngọt, đắng, tính ôn, có tác dụng nhuận phế, trừ ho, lợi đờm.

Công dụng

Măng tây là loại rau ăn cao cấp rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới. Nấu với thịt gà hay cua bể ăn rất ngon. Ở các nưóc châu Âu, măng tây còn được đóng hộp xuất khẩu vì nó giữ được phẩm chất lâu bẩn. Ở Việt Nam, trước đây người ta trồng măng tây để lấy chồi làm rau ăn, song vì cây cho năng suất thấp không đạt yêu cầu về kinh tế, nên ngưòi ta chuyển sang trồng làm cây cảnh, cắt cành lá bán cùng các loại hoa có lợi hơn.

Về mặt y học, măng tây được sử dụng làm thuốc từ thời trước công nguyên ở Hy Lạp và La Mã. Người ta thường lấy măng tươi nấu canh ăn hoặc sắc uống để kích thích tiểu tiện. Khi ăn măng tây, nước tiểu thải ra có mùi đạc biệt. Măng tây được chỉ định dùng cho những người yếu thận, đau bàng quang, suy gan mật. Ở Pháp, có biệt dược "Sirop des cinqracines” (Siro 5 loại rễ) được ghi trong dược điển và lưu hành rộng rãi với công dụng lợi tiểu, khai vị và gây trung tiện. Thuốc gồm có mầm non cây măng tây, rễ rau cần tây, rễ mùi tây, rễ cây nhựa ruồi, và rễ cam thảo. Toàn bộ cây măng tây chứa chất xơ rất cần thiết cho tiêu hoá, có tác dụng chống táo bón. Măng tây còn co ích cho người lao động trí óc, tăng cường sức dẻo dai trong công việc.

Ở Ấn Độ, măng tây được dùng làm thuốc chữa chứng bụng đầy hơi, nước sắc măng tây chữa bệnh thấp khớp, phối hợp với kali bromid chữa phù thũng do tim và bệnh gút. Ở Trung Quốc, người ta dùng măng tây chữa ho, phế nhiệt với liều 6 - 9g sắc nước uống.

Măng Tây 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC