Vị thuốc vần M

Muồng Trâu

02:55 23/05/2017

Cassia alata L.

Tên khác: Cây lác, muồng lác.

Tên nước ngoài: Ringworm shrub, winged senna, ringworm senna, candelabra bush, crawcraw plant (Anh); dartrier, casse ailée, séné ailé (Pháp).

Họ: Vang (Caesalpiniaceae).

Mô tả

 Cây nhỏ, cao l,5m hay hơn. Thân mập, cành nằm ngang, có lông rất nhỏ và có khía. Lá mọc so le, kép lông chim, dài 30 - 40cm, gồm 8-12 đôi lá chét hình chữ nhật hoặc hình bầu dục tròn ở hai đầu, lá chét dài 5 -13cm, rộng 2,5 - 7cm, to dần về phía ngọn, hai mặt nhẵn; cuống lá to, hơi có cánh; lá kèm thẳng, nhọn, tồn tại.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá và ngọn thân thành bông to, dài 20 - 30cm, rộng 3- 4cm; lá bắc sớm rụng; cuống cụm hoa mập; hoa màu vàng; lá đài 5 không bằng nhau, thuôn, nhẵn; cánh hoa 5, thắt lại ở gốc thành móng ngắn và hẹp; nhị 6 - 7, 2 nhị to có bao phấn lOmm, những nhị trung bình có bao phấn 5mm, những nhị nhỏ có bao phấn bằng nhau, dài 4mm; bầu có cuống, vòi nhuỵ ngắn.

Quả dẹt, có cánh ở hai bên dìa, dài 8 - 16cm, rộng 1,5 - l,7cm; hạt nhiều, dẹt, hình quả trám.

Mùa hoa quả: tháng 10 -12.

Muồng trâu và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Cassia L. có đến 580 loài trên thế giới, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam có 24 loài đều mọc tự nhiên, một số loài được trồng để tạo bóng cho chè, cà phê, hoặc làm thuốc.

Muồng trâu có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau lan rộng ra các vùng khác tạo thành loài liên nhiệt đới. Ở châu Á, cây phân bố ở Ân Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia. Ở Việt Nam, cây phân bố rải rác ở các tỉnh miền núi, nhất là ở miền Nam, như Bình Dương, Lâm Đồng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Hà Tĩnh... Ở miền Bắc, cây được trồng trong các vườn thuốc y học dân tộc.

Muồng trâu là cây ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm bên bờ sông suối. Cây rụng lá hàng năm vào mùa đông (ở miền Bắc) và mùa khô (ở miền Nam), do đó, mùa hoa quả giữa hai miền có thể lệch nhau đến hai tháng.

Quả chín khô tách thành 2 mảnh, hạt rơi xuống đất, tồn tại qua đông và sẽ nảy mầm vào cuối mùa xuân năm sau. Cây có khả năng tái sinh sau khi bi chặt đốn.

Cách trồng

Muồng trâu hay được trồng ở các vườn cây thuốc. Cây không chịu được úng và không trồng được ở vùng núi cao với thời tiết quá lạnh.

Cây được nhân giống dễ dàng bằng hạt. Hạt gieo trong vườn ươm vào tháng 2-3, cây con được đánh đi trồng vào tháng 4-5. Còn có thể trồng bằng cành vào mùa xuân.

Khi trồng, đào hố 50 X 50 X 50cm, cách nhau 2 - 3m. Mỗi hố bón lót 5- 7kg phân chuồng, trộn đều phân với đất rồi đặt cây giống, dận chặt gốc tưới nước giữ ẩm. Thỉnh thoảng cần làm cỏ vun gốc. Vào thời kỳ. cây sinh trưởng mạnh, cần bón thúc bằng các loại phân hữu cơ hoặc phân đạm. Sâu hại chính là sâu xanh và sâu róm. Tốt nhất nên diệt trừ bằng tay khi mói thấy xuất hiện.

Bộ phận dùng

Lá và thân cành, thu hái vào mùa hạ, trước khi cây ra hoa, dùng tươi hay phơi khô. Rễ thu hái vào mùa thu, phơi khô.

Thành phần hoá học

Lá, quả và gỗ muồng trâu chứa các dẫn chất anthraquinon với tỷ lệ 2,2% trong quả, 3,4% trong lá. Yadav Satyenden K, Kalidhar Suraj B đã chiết và xác định cấu trúc một anthraquinon là alquinon (CA, 122, 1995, 128620 g).

Rai K. N; Prasad S.N chiết xuất và phân lập được 1,5 dihydroxy - 2 - methyl anthraquinon cùng vói 5 hydroxy - 2 - methyl anthraquinon - 1 - 0 - rutinosid từ cành muồng trâu (CA,123, 1995, 251257s).

Hemlata, Kalidhar cũng chiết xuất được một anthron từ cành và xác định là 3 formyl 1,6,8,10 tetrahydroxy anthron (CA, 123, 1995, 165081 y).

Năm 1993, Hemlata, Kalidhar đã chiết từ cành một chất đặt tên là alatinon với cấu trúc là 1,5,7 trihydroxy - 3 - methyl anthraquinon (Phytochemistry 1993, 32 (6) 1618 - 20; CA, 119, 1993, 113365 s).

Sau đó, Kelli T. Rosa. Ma. Zeukun, Ku Wei đã xác định lại cấu trúc của alatinon là 1,6,8 trihydroxy - 3 - methyl anthraquinon. Như vậy alatinon thực chất là emodin (Phytochem 1994, 36 (1) 253,4; CA, 121, 1994, 9022 h).

Hemlata Kalidhar s. B đã phân lập một anthraquinon đặt tên là alatonan có cấu trúc là 2.formyl, 1,3,8 trihydroxy anthraquinon (CA, 121, 1994, 5190p).

Từ dịch chiết cồn của lá muồng trâu, Planichamy s và Nagarajan s đã tách riêng một flavonglucosid là kaempferol - 3 - o - sophorosid. Chất này có hoạt tính chống viêm khá mạnh (CA, 113, 145032y).

Hai chất flavonosid glucosid mới cũng được Gupta Dipti; Singh J. tách từ hạt muồng trâu là chrysoeriol - 7 - o - (2" - o - ß - D - manno - pyranosyl) ß - D - allopyranosid và rhamnetin - 3 - o - (2” - o - ß - mannopyranosyl) ß- D - allopyranosid (CA, 116, 1992, 3543d).

Trong hạt muồng trâu còn có khoảng 15% protein. Các acid béo không no khoảng 60%, lượng acid béo toàn phần chủ yếu gồm các acid béo có 18 carbon. Ngoài ra, còn có các chất vô cơ như Ca, Mg, Na, Mn, trong đó Ca chiếm tỷ lệ cao nhất (17mg/100g) (CA, 110, 1989 22491c).

Rễ muồng trâu chứa sitosterol.

Tác dụng dược lý

Trong thử nghiệm lâm sàng trên người nhiễm giun, đã nghiên cứu áp dụng lá muồng trâu phối hợp với hạt trâm bầu để điều trị giun đũa. Tác dụng tẩy của lá muồng trâu đã làm tăng kết quả trị giun của hạt trâm bầu, tỷ lệ ra giun đạt từ 50 - 60%.

Tính kháng nấm in vitro bằng phương pháp pha loãng đã được nghiên cứu và chứng minh muồng trâu có tác dụng kìm hãm sự phát triển của các nấm Trichophyton rubrum, T. gypseum, Epidermophyton inguinale. Nồng độ càng cao thì thời gian duy trì tính kháng nấm của dược liệu trong ống nghiệm càng lâu.

Cao lỏng muồng trâu có tác dụng ức chế yếu các vi nấm gây bệnh ngoài da được lấy trực tiếp từ bệnh phẩm của bệnh nhân và cấy trong môi trường Sabouraud. Những vi nấm gây bệnh ngoài da thường gặp ở Việt Nam là Microsporum canis, M. gypseum, M. ferrugineum, Epidermophyton floccosum, Trichophyton mentagrophytes, T. rubrum, T. tonsurans, T. concentricum, T. violaceum, T. schonleini.

Trong thử nghiệm trên người bệnh, lá muồng trâu dưới dạng thuốc mỡ đã được nghiên cứu trên lâm sàng về tính chất an toàn và hiệu qủa tri nấm. Lá cũng được nghiên cứu dược lý và thấy có tác dụng lợi tiểu và chống viêm.

Cao lá muồng trâu đã được nghiên cứu trên chuột cống trắng gây đái tháo dường với streptozotocin bằng cách cho uống và kết quả được so sánh với glybenclamid. Cao này không có tác dụng trên đường huyết của chuột bình thường nhưng làm hạ đường huyết trên chuột gây tăng đường huyết với streptozotocin.

Tính vị, công năng

Muồng trâu có vị hơi đắng, mùi hắc, tính mát, có tác dụng nhuận tràng, giải nhiệt, sát trùng, lợi tiểu.

Công dụng

Muồng trâu được dùng làm thuốc chữa táo bón (lá, cành, rễ, sắc uống), phù thũng, đau gan, vàng da (lá, cành, rễ sắc uống thường xuyên như chè). Ngày dùng 4 - 12g để nhuận tràng, 20 - 40g để tẩy.

Dùng ngoài, chữa hắc lào, bệnh tokelo, herpes loang vòng. Lá muồng trâu giã nát lấy nước cốt bôi ngày hai lần sau khi đã rửa sạch, cạo cho tróc vẩy hắc lào, hoặc lấy lá tươi vò nát xát vào. Còn dùng chữa bệnh ghẻ của người và động vật, lá nấu nước tắm và xát vào chô ghẻ lở. Sự kiêng kỵ như đối với tất cả các vị thuốc chứa anthraglucosid khác. Đối với người có thai, dùng trong phải thận trọng.

Bài thuốc có muồng trâu

1. Chữa táo bón:

Muồng trâu 20g, chút chít 20g, đại hoàng 4 - 6g. Sắc uống trong ngày.

2. Chữa hắc lào:

a. Lá muồng trâu tươi giã nát, lấy nước bôi. Thêm ít muối hoặc dịch quả chanh, tác dụng càng mạnh hơn.

b. Lá muồng trâu đem nghiền nát. Đổ vào đó nước đun sôi có pha natri fluorid, để yên trong 24 giờ, rồi lọc qua vải. Thêm vào bã ít cồn 90°, ngâm 24 giờ, rồi ép lấy cồn. Hợp cả cồn và nước lại, cồ tới độ cao mềm. Cao này có thể bảo quản không bị mốc do có natri fluorid. Có thể chế thuốc mỡ 1/5 tù cao.

3. Chữa thấp khớp:

Muồng trâu 40g; vòi voi 30g; tang ký sinh, quế chi, dứa dại, rễ cỏ xước, mỗi vị 20g. sắc uống ngày một thang, trong 7-10 ngày.

4. Chữa viêm thần kinh toạ:

Muồng trâu 24g; cây lức 20g; thần thông, rễ nhàu kiến cò, mỗi vị 12g, đỗ trọng 8g. sắc uống ngày một thang.

5. Chữa ban trái (ban chẩn):

Lá muồng trâu 8g; hương bài 10g; đọt tre non, ké đầu ngựa, mùi tàu, cây lức, mỗi vị 8g; mức hoa trắng 6g- vỏ quýt 4g; đăng tâm 2g. sắc uống ngày một thang.

 

Muồng Trâu 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC